Giới thiệu sách tháng 12 - “Mưa đỏ”
Ngày sách và văn hoá đọc THPT Buôn Ma Thuột tháng 4/2024
TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG LỚP 12

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đoàn Thanh Loan
Ngày gửi: 08h:21' 01-04-2025
Dung lượng: 32.6 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Đoàn Thanh Loan
Ngày gửi: 08h:21' 01-04-2025
Dung lượng: 32.6 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Đỗ Tường Hiệp (Chủ biên) – Krông Ái Hương Lan – Tô Minh Hùng – Niê Thanh Mai
Nguyễn Thị Tăng – Trần Thị Thái Hà – Mai Thanh Sơn – Hoàng Thị Kiều Oanh – Y Lam Niê
Đặng Nguyên Hà – Tống Xuân Tám – Đỗ Thị Thuỳ Dương – H'Ner B'Krông
Huỳnh Ngọc La Sơn – Ngô Tiến Sỹ
TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG
TỈNH ĐẮK LẮK
Lớp
12
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
2
Lời nói đầu
Các em học sinh thân mến!
Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Đắk Lắk được biên soạn
theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 nhằm giới thiệu cho học
sinh những hiểu biết về địa phương, nơi các em đang sinh sống. Từ đó,
bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương đất nước; lòng tự hào và
có ý thức tìm hiểu, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hoá của quê hương
Đắk Lắk. Thông qua những bài học sinh động, gần gũi với cuộc sống
diễn ra xung quanh, các em có thể gắn kết và vận dụng những kiến thức
đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn.
Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Đắk Lắk lớp 12 gồm 8
chủ đề được biên soạn theo hướng tích hợp các lĩnh vực: văn hoá, lịch
sử truyền thống; địa lí, kinh tế, hướng nghiệp; chính trị – xã hội; môi
trường. Mỗi chủ đề được thiết kế theo các bước: mục tiêu, mở đầu, kiến
thức mới, luyện tập và vận dụng.
Với sự hướng dẫn của các thầy, cô giáo, các em hãy tích cực học
tập và trải nghiệm để hiểu biết thêm về nơi mình sinh sống, đồng thời
thêm yêu mến và gắn bó với quê hương mình.
Chúc các em có những giờ học, hoạt động trải nghiệm thật thú vị
và bổ ích với Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Đắk Lắk lớp 12.
Các tác giả
3
Các kí hiệu sử dụng trong tài liệu
MỤC TIÊU
Nêu những năng lực và phẩm chất học sinh cần
hình thành sau khi học.
MỞ ĐẦU
Kết nối với những điều học sinh đã biết, nêu vấn đề
nhằm kích thích tư duy, tạo hứng thú đối với bài mới.
KIÊN THÚC MÓI
Thông qua các hoạt động học tập giúp học sinh khai
thác, tiếp nhận kiến thức mới.
LUYỆN TẬP
Cung cấp các câu hỏi, bài tập thực hành để củng cố
kiến thức, rèn luyện các kĩ năng gắn với kiến thức
vừa học.
VẬN DỤNG
Sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các
tình huống, vấn đề trong thực tiễn.
Em có biết
Thông tin hỗ trợ, bổ sung nhằm làm rõ hơn nội
dung chính.
Nghe bài hát và cảm nhận giai điệu.
4
Mục lục
Trang
Lời nói đầu
03
Các kí hiệu sử dụng trong tài liệu
04
Chủ đề 1. Văn học viết Đắk Lắk giai đoạn từ 1975 đến nay
06
Chủ đề 2. Hoạt động âm nhạc tỉnh Đắk Lắk từ năm 1975 đến năm 2024 23
Chủ đề 3. Mĩ thuật Đắk Lắk từ năm 1975 đến nay
32
Chủ đề 4. Đắk Lắk vững bước trên đường đổi mới, hội nhập
và phát triển từ năm 1986 đến nay
43
Chủ đề 5. Lao động và việc làm ở Đắk Lắk
56
Chủ đề 6. Đắk Lắk trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
63
Chủ đề 7. Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên ở tỉnh Đắk Lắk 72
Chủ đề 8. Thực hiện chính sách an sinh xã hội ở tỉnh Đắk Lắk
80
5
CHỦ ĐỀ
1
VĂN HỌC VIẾT ĐẮK LẮK
GIAI ĐOẠN TỪ 1975 ĐẾN NAY
MỤC TIÊU
– Nêu được những kiến thức cơ bản về văn học viết Đắk Lắk giai đoạn
từ 1975 đến nay.
– Có khả năng giới thiệu được một tác giả, một tác phẩm; bước đầu
nghiên cứu một thể loại, một đề tài, một vấn đề về nội dung tư tưởng,…
– Liên hệ được với thực tiễn đời sống về những vấn đề được phản ánh
trong văn học viết Đắk Lắk giai đoạn từ 1975 đến nay.
– Đọc hiểu được một số tác phẩm tiêu biểu của văn học giai đoạn này.
MỞ ĐẦU
– Em biết gì về văn học viết Đắk Lắk giai đoạn từ 1975 đến nay?
– Hãy kể tên một vài tác phẩm hoặc tác giả văn học viết Đắk Lắk giai
đoạn từ 1975 đến nay.
– Trình bày một bài hát được phổ thơ từ tác phẩm văn học Đắk Lắk.
KIÊN THÚC MÓI
I. KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC VIẾT ĐẮK LẮK GIAI ĐOẠN TỪ 1975 ĐẾN NAY
1. Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá
Chiến thắng Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975 không chỉ là một sự kiện lịch sử
mà còn là một dấu mốc quan trọng đối với Nhân dân Việt Nam nói chung, đồng
bào Tây Nguyên nói riêng. Những ngày mới giải phóng, ngoài những khó khăn
chung của cả nước, Đắk Lắk gặp không ít khó khăn như: sự chia rẽ đoàn kết dân
tộc của tổ chức FULRO(1), sự chống phá của bè lũ Khmer Đỏ ở biên giới Tây Nam,
FULRO (Mặt trận thống nhất đấu tranh của các sắc tộc bị áp bức) đọc là Phun-rô, tiếng Pháp: Front Uni de Lutte
des Races Opprimées là liên minh chính trị – quân sự của các sắc tộc Cao nguyên Trung phần, Chăm, Khmer tồn
tại từ năm 1964 đến năm 1992. Sau năm 1975, FULRO được sự hậu thuẫn của các tổ chức phản động lưu vong
vẫn ráo riết hoạt động, thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, đòi ly khai Tây Nguyên. Dưới sự giật dây
của những “ông chủ” ở nước ngoài, tổ chức này đã gây ra hàng loạt vụ tập kích ở nhiều buôn làng, sát hại và làm
bị thương hàng nghìn người dân vô tội, trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng cho đồng bào Tây Nguyên.
(1)
6
tư tưởng thù nghịch của một số người với chế độ mới vẫn âm ỉ chờ dịp bùng phát,
trình độ dân trí chưa cao; âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch
bên ngoài,... Nhưng, đúng như quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định
“Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận”, những hoạt động của văn học phải
bám chắc phương hướng, nhiệm vụ chính trị, góp phần làm nên những thắng lợi
chung. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kế thừa những áng thơ văn đầy sức chiến
đấu hào hùng qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, phát huy ý chí
và tinh thần của ngày 10/3 lịch sử..., văn nghệ sĩ ở Đắk Lắk trở thành một trong
những lực lượng xung kích, có bản lĩnh chính trị, làm tốt chức năng xây dựng đời
sống văn hoá – tinh thần cho xã hội; chung sức, chung lòng cùng với nhân dân
tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn lao góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thực tế cho thấy, trong những ngày đầu đất nước thống nhất, văn học Đắk
Lắk gặp rất nhiều khó khăn:
– Thứ nhất, về tổng thể, đó là một nền văn học chưa có bề dày. Văn học viết
xuất hiện muộn, chủ yếu là truyền tay nhau hoặc truyền miệng giữa những tù
chính trị trong nhà đày (đáng tiếc, những tác phẩm bị thất lạc gần hết); những tác
phẩm thơ văn được sáng tác trong thời kì chống Mỹ và đấu tranh thống nhất đất
nước hầu như chỉ nằm ở dạng bản thảo vì không có điều kiện in ấn,... Có thể nói,
tính kế thừa sẵn có trước 1975 của văn học viết ở Đắk Lắk là rất hạn chế.
– Thứ hai, ngay sau ngày giải phóng Buôn Ma Thuột 1975, lực lượng sáng
tác ở Đắk Lắk còn non trẻ. Số lượng văn nghệ sĩ thuộc diện “những người đi từ
rừng ra” (tức những người từng tham gia kháng chiến chống Mỹ và đấu tranh
thống nhất Tổ quốc tại chiến trường Đắk Lắk) cũng còn ít, lực lượng chi viện tăng
cường chủ yếu nằm ở hai phương diện: xây dựng – quản lí (về mặt kinh tế) và an
ninh – quốc phòng. Bên cạnh đó, vào những thập kỉ cuối của thế kỉ XX, Đắk Lắk
còn là một tỉnh nghèo so với mặt bằng chung cả nước, thu chưa đủ chi, địa bàn
rộng lớn, vẫn bị coi là miền hoang sơ, cơ sở hạ tầng thấp kém, việc thông thương
giữa các vùng miền trong khu vực cũng như với các tỉnh bạn còn khó khăn, đời
sống văn hoá – tinh thần có nhiều hạn chế. Bởi vậy, việc giữ được nhân tài, cán bộ
ngành văn hoá thông tin (và an ninh – quốc phòng) đã khó, việc thu hút nhân tài và
các cán bộ đến với Đắk Lắk và ở lại Đắk Lắk càng khó hơn. Như một lẽ tất nhiên,
mặt trận văn học nghệ thuật cũng bị ảnh hưởng tác động sâu sắc. Lực lượng văn
nghệ sĩ vốn đã ít ỏi, lại phải lo bươn chải với cuộc sống để kiếm thêm thu nhập
bằng cách này hay cách khác, nên khó có thời gian thâm nhập vào đời sống thực
tế, không có điều kiện để tiếp nhận những thông tin mới và sự giao lưu để học tập
kinh nghiệm, không thể dồn hết tâm huyết cho việc sáng tạo văn học nghệ thuật...
Trước bối cảnh lịch sử xã hội nói chung và Đắk Lắk nói riêng, sự chỉ đạo từ
các nghị quyết Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk về công tác văn hoá –
văn nghệ; các Nghị quyết của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ
thuật Việt Nam, văn học – nghệ thuật Đắk Lắk không nằm ngoài quỹ đạo chung
trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân các dân tộc, gắn bó với nền văn hoá cổ
truyền, vì một nền văn học – nghệ thuật dân tộc và hiện đại. Để đoàn kết, tổ chức,
7
động viên những người làm công tác văn nghệ, Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh
đã tiến hành thành lập Ban vận động thành lập Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk.
Từ ngày 4/9 đến ngày 5/9/1990, Đại hội thành lập Hội Văn học Nghệ thuật
Đắk Lắk thành công tốt đẹp đánh dấu bước ngoặt lịch sử trên chặng đường phát
triển của văn học – nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk. Ban đầu, Hội Văn học Nghệ thuật Đắk
Lắk (gọi tắt là Hội Văn nghệ Đắk Lắk, viết tắt là Hội VHNT Đắk Lắk) có 45 hội viên
thuộc các chuyên ngành: văn học, âm nhạc, mĩ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu – biểu
diễn, văn hoá dân gian, kiến trúc. Hội Văn nghệ trở thành một tổ chức, chịu sự chỉ
đạo của Tỉnh uỷ, do Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lí, là thành viên của Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đắk Lắk. Hội là nơi tập hợp lực lượng các văn nghệ sĩ
trong tỉnh, tạo điều kiện cho họ phát huy tiềm năng sáng tạo văn học, nghệ thuật
để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hội cũng đồng thời vừa là vườn ươm
vừa là vườn hoa trái của văn học, nghệ thuật ở địa phương và cả nước.
2. Đặc điểm của văn học viết Đắk Lắk giai đoạn từ 1975 đến nay
Đặc điểm nổi bật của văn học Đắk Lắk là thiếu tính kế thừa dòng văn học viết
từ các giai đoạn trước, đội ngũ sáng tác đa số là không chuyên, những người cầm
bút sáng tác văn học được sinh ra và lớn lên ở Đắk Lắk trong giai đoạn sau năm
1975 là rất ít (đại đa số từ nhiều miền quê khác nhau về đây và chọn Đắk Lắk làm
quê hương thứ hai của mình), Hội Văn học Nghệ thuật ra đời muộn (so với mặt
bằng chung của cả nước).
Về đội ngũ sáng tác, sau năm 1975, ngoài những người “đi từ rừng ra” còn
được bổ sung thêm lực lượng mới là các trí thức được điều động từ miền Bắc vào
tiếp quản, những cán bộ mới ra trường được phân công vào Đắk Lắk, những học
sinh đã hết cấp III được tuyển vào học các khoá đào tạo ngắn hạn để phân bổ về
Đắk Lắk công tác tương đối đông đảo. Nhưng do giao thông khó khăn, thông tin
liên lạc còn lạc hậu, không ở lại sau khi hết thời gian nghĩa vụ; việc in ấn sách báo
rất hạn chế cả về số lượng và hình thức.
Từ sau năm 1990, văn học Đắk Lắk tiếp tục đi sâu vào ca ngợi khí thế hào
hùng của dân tộc nói chung và Đắk Lắk nói riêng, ca ngợi cuộc sống mới sinh sôi,
vững tin vào tương lai; đấu tranh với những tàn dư của chế độ thù địch, đấu tranh
với những thế lực phản động đang âm mưu “diễn biến hoà bình”, đề cao tinh thần
cảnh giác với những thủ đoạn phá hoại gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đấu
tranh với những tư tưởng lạc hậu,... cổ vũ ý chí cách mạng kêu gọi mọi người góp
sức vào công cuộc xây dựng đất nước, tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức phụng
sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân,...
Văn học viết ở Đắk Lắk có tuổi đời khá non trẻ và có những đặc điểm riêng
của một vùng văn hoá.
Đắk Lắk không có xưởng phim, không có đoàn kịch chuyên nghiệp (đến nay có
Đoàn Ca múa Dân tộc Đắk Lắk và các Đội thông tin lưu động). Chính vì thế, kịch
bản văn học Đắk Lắk hầu như không có. Tất cả các kịch bản xuất hiện ở Đắk Lắk
chỉ ở dạng làm công tác tuyên truyền, cổ động các phong trào, do các đội thông tin
8
lưu động trình diễn. Cũng đã có tác giả chuyển thể từ truyện sang kịch bản nhưng
không thành công, không gây được ấn tượng khi dựng thành phim truyền hình.
Về lí luận và phê bình văn học, hầu như chỉ ở mức độ nghiệp dư chưa có tính
chuyên nghiệp theo đúng yêu cầu. Mỗi khi có đầu sách được xuất bản, cũng có
xuất hiện bài viết đánh giá, nhận định, bình luận,… nhưng cũng chỉ là sự đồng
điệu trong quá trình đọc và cảm thụ. Có nghĩa là chỉ thiên về bình chứ chưa hẳn
là “phê”, càng ít hơn nữa là sự đòi hỏi phải nghiên cứu và viện dẫn bằng “ý”.
Lực lượng sáng tác ở Đắk Lắk là nơi “trăm miền quê góp nên một miền quê”,
do đó đội ngũ văn nghệ sĩ Đắk Lắk đa số là từ nơi khác đến, chọn Đắk Lắk là quê
hương mới của mình. Bởi vậy, bên cạnh những khó khăn cũng có những thuận lợi
cho hoạt động sáng tác văn học, nghệ thuật. Với 49 dân tộc từ nhiều vùng miền về
đây sinh cơ lập nghiệp, Đắk Lắk trở thành miền đất đa sắc tộc, đa văn hoá, căng
nhựa sống,... nhiều tiềm năng để khai thác phục vụ việc sáng tạo văn học, nghệ
thuật. Chính vì thế, văn học Đắk Lắk có tiếng hát của trăm miền, đậm chất sử thi
nhưng không thiếu tính hiện đại, có tính triết luận của xứ Bắc nhưng cũng có sự
mộc mạc của phương Nam, có cánh cò chấp chới và cũng có tiếng vó ngựa ô dồn
dập,... Những người cầm bút ở Đắk Lắk có ý thức kết hợp các tinh hoa văn hoá của
các dân tộc, kết hợp việc bảo tồn, phát huy các yếu tố truyền thống tốt đẹp của dân
tộc mình hoặc của quê hương xứ sở, đồng thời biết giao lưu, tiếp thu các yếu tố tiên
tiến để làm giàu cho nền văn hoá trên vùng đất đã được coi là máu thịt của mình.
Đội ngũ sáng tác văn thơ ở Đắk Lắk xuất thân từ nhiều tầng lớp, nhiều ngành
nghề trong xã hội. Đó có thể là giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, bộ đội, cán bộ lãnh đạo,
nhà báo, người thợ, sinh viên, học sinh,... Tất cả đã đến với văn chương bằng sự
yêu say và lòng đam mê tự nguyện, cho nên văn thơ Đắk Lắk gần gũi với nhân
dân, gắn mình với cuộc sống, làm tốt nhiệm vụ chính trị của mình. Đó là những
con người biết làm cho những người ở xa Đắk Lắk, hoặc chưa một lần đặt chân
đến vùng đất này nhưng vẫn thấu hiểu được màu đất đỏ badan là sự tươi ròng
của máu và hoa cùng hoà quyện với hàng triệu trái tim đang gắn bó máu thịt với
đất đai và truyền thống của mình, cùng đắm chìm với hương vị cà phê, biết được
sự ẩn chứa trong cái vẻ màu xanh bạt ngàn của cao su là những dòng nhựa trắng,
thấy rõ được trong cái hoang sơ của đại ngàn là xu thế phát triển về mọi mặt của
đời sống, cảm thông được với những khó khăn gian khổ của con người Đắk Lắk
đang gồng mình để vươn lên trong cái khốc liệt của mưa nắng Tây Nguyên để xây
dựng cuộc sống mỗi ngày thêm đẹp.
Lực lượng văn nghệ sĩ Đắk Lắk đã biết kế thừa tinh hoa truyền thống biết
tận dụng nền văn hoá đa dạng và phong phú của nhiều dân tộc, nhiều vùng miền
đang cùng chung sống trên mảnh đất hào hùng lịch sử, phát huy khả năng sáng
tạo, xác định vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ chính trị của mình trong công cuộc
kiến thiết nước nhà. Bản thân mỗi cá nhân luôn tự xác định phải đóng góp hết khả
năng và sức lực của mình cho cuộc sống, cho Tổ quốc trên con đường xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Bởi thế, văn học Đắk Lắk không ngừng hoàn thiện mình để đóng
góp cho văn học nước nhà bằng diện mạo của riêng mình trong dòng chảy chung.
9
Xét theo thời gian gắn bó với Đắk Lắk, có thể phân chia thành hai lớp. Lớp
“những người đi từ trong rừng ra” có thể kể đến các đồng chí lãnh đạo tỉnh như:
Nguyễn Xuân Nguyên, Huỳnh Văn Cần, Ama H'Oanh (Tô Tấn Tài) với những bài
thơ nghiêng về công tác tuyên truyền, cổ động và một số ít người viết mang tính
nghệ thuật như: Hữu Chỉnh, Trúc Hoài, Nguyễn Hữu Trí, Vũ Nhật Hồng hoặc là
những cán bộ được điều động, tăng cường từ nơi khác chuyển đến như: Nhị Hà,
Thiên Lương, Chính Tâm, Triệu Cơ, Hoàng Chuyên.
Đội ngũ sáng tác văn học ở Đắk Lắk bao gồm nhiều độ tuổi, nhiều tầng lớp,
bên cạnh những tác giả đã có “độ chín”, có nhiều tác giả trẻ trưởng thành sau thời
kì đổi mới và một số tác giả ở nhiều địa phương khác tham gia đóng góp cho văn
học tỉnh nhà.
Văn học Đắk Lắk từ sau năm 1975 là một bộ phận của văn hoá Đắk Lắk nói
riêng và nền văn hoá Việt Nam nói chung, là một dòng chảy đang từng ngày từng
ngày hoà mình vào con sông lớn để nhập vào biển cả văn học dân tộc và nhân
loại. Mỗi người cầm bút sáng tạo ở Đắk Lắk giống như một mạch nước góp phần
cho dòng chảy thêm lớn mạnh. Mạch nước nào cũng nặng tình nghĩa với đất, luôn
có cảm giác nặng nợ với đất và người nơi đây cho nên người nghệ sĩ Đắk Lắk
không ngừng nâng cao tay nghề, thật sự tâm huyết để vươn lên đóng góp được
nhiều hơn nữa vào văn học tỉnh nhà cũng như văn học cả nước.
1. Nêu những đặc điểm cơ bản về bối cảnh lịch sử Đắk Lắk giai đoạn
từ 1975 đến nay.
2. Văn học viết Đắk Lắk giai đoạn từ 1975 đến nay có những đặc điểm
nổi bật nào về đội ngũ sáng tác và nội dung tư tưởng?
II. THỂ LOẠI TIÊU BIỂU
1. Thơ ca
Nhìn chung, văn học Đắk Lắk giai đoạn từ 1975 đến nay có lực lượng sáng tác
thơ ca khá đông đảo. Nhiều nhà thơ đã trở thành quen thuộc đối với độc giả với nhiều
phong cách khác nhau như: Hữu Chỉnh, Hoàng Chuyên, Uông Ngọc Dậu, Vũ Di, Trúc
Hoài, Dương Thế Hoàn, Vũ Nhật Hồng, Hoàng Thiên Nga, Lê Vĩnh Tài, Chính Tâm,
Nguyễn Thị Thái, Văn Thanh, Tiến Thảo, Đinh Thị Như Thúy, Sơn Thúy, Lệ Thuỷ,
Hoàng Mạnh Thường, Đặng Bá Tiến, Đinh Hữu Trường, Hương Vũ, Bùi Minh Vũ,
Văn Thảnh, H Trem Knul,...
Các tác giả đã góp những vần thơ ấm áp tình đất, tình đời làm nên “gương
mặt cao nguyên” đa thanh đa điệu, đa sắc màu văn hoá của mọi vùng miền Tổ
quốc và cũng đa dạng cách cảm cách nghĩ đối với Đắk Lắk – vùng đất chiến lược
về quốc phòng, giàu tiềm năng về kinh tế, có cuộc sống mới sinh sôi nảy nở và
phát triển từng ngày từng giờ. Đắk Lắk đã trở thành vùng đất của thi ca không chỉ
đối với những con người đang sống và làm việc ở Đắk Lắk mà cả những người
bạn đến với Đắk Lắk và những người chưa một lần đặt chân đến nơi đây.
10
Hầu như những nhà thơ ở Đắk Lắk đều đã chọn mảnh đất này là quê hương thứ
hai của mình, chính vì thế trên thi đàn thơ ca Đắk Lắk, ta dễ bắt gặp rất nhiều cách cảm,
cách nghĩ của các vùng miền Bắc – Trung – Nam và các thành phần dân tộc trong đại
gia đình các dân tộc Việt Nam hoà với nắng gió Tây Nguyên, với màu đất bazan, với
hương vị rượu cần,... góp phần làm giàu bản sắc văn hoá của một vùng đất.
Ngoài sự kế thừa bản sắc văn hoá vùng miền của nơi chôn nhau cắt rốn, các
nhà thơ còn có sự kế thừa của vùng đất sử thi hoang sơ và dữ dội, có sự phát huy
để viết tiếp về một vùng đất có lịch sử hào hùng trong hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ cũng như công cuộc xây dựng cuộc sống mới hôm nay, có sự
tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhiều vùng miền, nhiều dân tộc, nhiều xứ sở theo
con người tìm về vùng đất lành chim đậu,... Tuy nhiên, mỗi “con người thơ” ở Đắk
Lắk có tâm hồn riêng, cá tính sáng tạo riêng, có nhãn quan về cuộc sống để phản
ánh vào trong thơ bằng phong cách riêng. Bởi vậy, diện mạo thơ Đắk Lắk trong
cái chung của thơ từ một vùng đất vẫn khiến ta nhận thấy cá tính sáng tạo riêng
của mỗi thi nhân. Mỗi người là một tâm hồn thơ, tạo nên những vẻ đẹp riêng của
thơ, làm cho thơ Đắk Lắk phong phú và đa dạng, muôn màu muôn vẻ.
2. Văn xuôi
Nếu thơ có đội ngũ đông đảo về số lượng tác giả thì ở văn xuôi lại có số lượng
khá khiêm tốn. Tuy văn xuôi mỏng hơn so với thơ về cả số lượng và chất lượng
nhưng cũng đã phần nào xây dựng được bức tranh sinh động về đời sống. Đó
là những trang viết về một thời hào hùng đấu tranh giải phóng quê hương, thống
nhất đất nước, những gian nan thử thách trong buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở vùng đất mới hồi sinh, những trăn trở trước cuộc sống còn bề bộn lo toan,
những vết thương chiến tranh còn gây nhức nhối,…
Nhiều tác giả truyện và ký của Đắk Lắk thường được nhắc đến như: Hồng
Chiến, Hữu Chỉnh, Trương Công Đản, Trúc Hoài, Ngô Văn Hưng, Nguyên Hương,
Thiên Lương, Niê Thanh Mai, H'Linh Niê (Linh Nga Niê Ndam),... Bên cạnh đó,
còn có những tác giả ở Đắk Lắk chuyên sáng tác thơ nhưng cũng có lúc sáng tác
văn xuôi như Uông Ngọc Dậu, Lê Tiến Dị, Hoàng Mạnh Trang, Nguyễn Lưu, Đồng
Xuân Lan, Mai Thanh Chương, Hoàng Thiên Nga, Đinh Thị Như Thuý,... Đó là
những tên tuổi đã góp phần nâng cao về chất tác phẩm, tiếp thêm sức cho dòng
văn xuôi Đắk Lắk chảy mạnh hơn, nhiều phù sa hơn.
1. Thơ ca giai đoạn từ 1975 đến nay có đặc điểm lớn nào về nội dung
tư tưởng?
2. Văn xuôi giai đoạn này có những đặc điểm nổi bật nào? Kể tên một
vài tác giả, tác phẩm mà em biết.
3. Sưu tầm một số tác phẩm (thơ, truyện) của văn học viết Đắk Lắk
giai đoạn từ 1975 đến nay mà bản thân tâm đắc, ấn tượng.
4. Viết bài văn giới thiệu về một tác phẩm thơ hoặc truyện và ký của
văn học viết Đắk Lắk giai đoạn từ 1975 đến nay.
11
III. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
VĂN BẢN 1
VẾT BÙN TRONG KẼ MÓNG CHÂN MẸ TÔI
Kính dâng hương hồn Mẹ
Tôi cắt móng tay móng chân cho Mẹ
trước khi tiễn Người về với Tổ tiên
tôi thấy vết bùn đồng chiêm
ăn sâu vào kẽ móng
ôi cái vết bùn làm sao xoá nổi
để Người được thanh thản gót tiên!
Bà tôi kể:
năm ấy đồng Biền
nước mênh mông trắng rợn
bụng vượt mặt Mẹ còn đi cấy mướn
khi chuyển sinh chúng bạn mới dìu về
chỉ kịp trườn lên chiếc chõng tre
rồi vỡ ối sinh tôi
hai chân Mẹ vẫn dính đầy bùn đất…
Cha tôi đi đánh giặc
đôi vai gầy Mẹ tôi gánh số phận cả nhà
năm cái miệng há chờ bàn tay Mẹ
bàn tay không hề phút giây được nghỉ
cả lúc đi nằm còn phải giữ trán suy tư
Năm hai vụ chiêm mùa
cây lúa lên từ bàn tay Mẹ
cây lúa lên theo dấu chân Người nứt nẻ
tiết hanh heo gió xiêu dạt dáng cò
Ai hài gấm, giày thêu quần áo lượt là
Mẹ tôi suốt ngày chân dầm trong bùn đất
12
– Đặng Bá Tiến –
khi cày cấy khi mò cua bắt ốc
áo váy phong phanh mấy lớp vá chằm
Bao ngọn gió vui, buồn đã thổi qua mặt đồng chiêm
mà dáng Mẹ tôi trên đồng vẫn thế
mặt úp vào mặt ruộng
Mẹ chỉ ngẩng lên khi nhìn xuống con mình!
Chúng tôi lớn khôn
đất nước gọi lên đường
nào đã kịp làm gì giúp Mẹ
chỉ làm Mẹ thêm phần gian khổ
bao đêm nằm không ngủ nhớ con xa
Bưng bát cơm thơm chúng tôi lại thương Mẹ ở quê nhà
trong bát cơm này có hạt cơm đồng chiêm của Mẹ
Mẹ đã già mà hạt thóc về tay người chẳng dễ
Phải giành giật với nắng mưa
với bao thứ chuột rầy
Chúng tôi trở về sau cuộc chiến tranh
lại bươn bả với những công trình mùa vụ
Mẹ bảy mươi rồi biết bao vất vả
công ơn Mẹ chúng tôi chưa kịp đáp đền
nhưng phút lâm chung Mẹ gọi tên từng đứa
Mẹ dặn: đừng bao giờ phụ bạc cánh đồng chiêm!
Ôi cái vết bùn trong kẽ móng chân
tôi không muốn Mẹ phải mang theo về nơi tiên tổ
nhưng tôi biết xoá đi không dễ
vết bùn già hơn tuổi Mẹ tôi!
1988
(Trích Đặng Bá Tiến, thơ chọn, NXB Hội Nhà văn, 2022, tr.131-133)
13
1. Bài thơ Vết bùn trong kẽ móng chân Mẹ tôi được viết theo thể thơ nào?
Thể thơ này có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện cảm xúc của chủ thể trữ
tình?
2. Mạch vận động của cảm xúc được thể hiện như thế nào trong bài thơ?
Qua đó, em hãy xác định bố cục của văn bản.
3. Hình ảnh Mẹ tôi hiện lên qua những mốc thời gian nào trong cuộc đời của
nhân vật trữ tình? Các mốc thời gian được sắp xếp theo trình tự nào? Ý nghĩa
của trình tự này là gì?
4. Hình ảnh “Vết bùn” xuất hiện bao nhiêu lần trong bài thơ? Ý nghĩa biểu
tượng của hình ảnh này?
5. Bài thơ sử dụng những biện pháp tu từ nào? Hãy phân tích một biện pháp
tu từ tiêu biểu.
6. Từ nội dung bài thơ và những trải nghiệm của bản thân, hãy lí giải vì sao tình
mẫu tử là một trong những tình cảm thiêng liêng trong cuộc đời của con người?
7. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 – 10 dòng) nêu cảm nhận về một câu
thơ/ý thơ bản thân tâm đắc.
8. Bài thơ Vết bùn trong kẽ móng chân Mẹ tôi đưa đến cho em thông điệp gì?
VĂN BẢN 2
HOA BLANG
(Viết tiếp chuyện tình chàng Đăm Săn)
– H'Linh Niê –
Đăm Săn bỏ mặc khách cầu hôn ngồi chật nhà cho chị em H'Âng, H'Lí tiếp.
Chàng cuốn gọn mớ tóc dài trong chiếc khăn bịt đầu đỏ chói của tù trưởng, gỡ
chiếc xagac treo trên vách, nhảy qua cửa sổ buông mình xuống giữa lưng ngựa,
phóng đi không hề ngoảnh lại.
Bước chân ngựa vẫn như hàng ngày nhanh hơn cơn gió. Thân hình Đăm Săn
vẫn dẻo như nõn mây. Nhưng dường như hôm nay tai chàng không nghe được
tiếng động nào, ngoài tiếng nói cứ nhắc đi nhắc lại trong đầu:
– Phải đến ngay nhà H'Bia Điết Klứt(1).
Tiếng con chim tao vao vắt vẻo trên cột gỗ ở cổng đầu buôn, chao chác gọi
bạn tình chẳng lọt lỗ tai chàng. Cơn gió ù ào luồn qua rừng khộp, đùa giỡn tung
những chiếc lá đỏ tơi tả bay đầy trời, không khiến mắt Đăm Săn chú ý. Thúc ngựa
lội ào qua suối, nước ngập tới ức ngựa, ướt cả đuôi khố, chàng không hay.
H'Bia Điết Klứt: là một nữ tù trưởng, người yêu của Đăm Săn, mà theo luật tục, chàng buộc phải bỏ để cưới
hai nàng H'Nhí & H'Bhí (Theo sử thi Đăm Săn).
(1)
14
– Không! Không Không thể lấy H'Nhí, H'Bhí làm vợ. Dù cho hai nàng có đẹp,
có giàu. Ta đã thuộc về H'Bia Điết Klứt.
Tiếng lách cách của khung dệt báo Đăm Săn biết người yêu đang dệt vải. Vịn
tay đầu sàn, chàng ghé nhìn qua khung cửa. H'Bia bên cửa sổ vẫn đang vừa luồn
chỉ vừa hát Dệt tấm khố em mong anh về/ Trao tấm áo để đón anh về/ Mẹ bảo em
rằng anh sẽ về/ Mai mốt anh về như chim có bầy(1).
Nàng dệt đã sắp xong tấm khố để tặng chàng. Bên cạnh lại còn bày cả tấm
chăn apăn lẫn chiếc áo tù trưởng knuky có hàng nút vàng và hàng dây đỏ rực như
chim mlang đang giang cánh trước ngực, đã dệt xong. Nhìn những trang phục đó,
nàng giục mình phải xe chỉ, luồn sợi nhanh tay hơn nữa, bởi đó chính là một phần
những lễ vật nàng sẽ đem sang nhà để cưới chàng về làm chồng.
Đăm Săn nắm lấy đôi bầu vú gỗ nơi đầu thang, đu thẳng người lên sàn. Bước
nhảy mạnh mẽ của chàng dũng sĩ khiến cả căn nhà sàn dài rung rinh. H'Bia dừng
tay dệt ngó ra cửa, nói dỗi:
– Đăm Săn! Mấy lần con gà lên ổ rồi em không thấy chàng. Hay Đăm Săn để
con diều mổ, con quạ tha em đi rồi mới tới đây chăng?
– H'Bia ơi! Em mắng anh sao như nước sôi trên lửa vậy? Mai này cơm ai người
đó ăn, rượu ai người đó uống. Em có còn được chờ, được mắng anh nữa không đây?
– Sao vậy Đăm Săn?
Bước tới sau lưng người yêu, Đăm Săn cởi hộ nàng sợi dây buộc khung dệt,
vén mớ tóc dài xoã đầy trên sàn, đỡ H' Bia đứng dậy:
– Cột một ché rượu hai người uống đủ đi em. Ta uống với nhau một lần cho
say, quên cả đường về, quên cả những gì đang chờ ở nhà anh kia nữa nhé.
Cảm thấy có điều gì xẩy ra, H'Bia lặng lẽ bới gọn mớ tóc rồi đi tới góc nhà
phía Đông nơi mẹ ủ rượu, chọn lấy một ché ngon. Đăm Săn với tay lên xà nhà,
lấy cây cột gơng chống xuống sàn, chàng phụ H'Bia bưng tới, cột ché rượu cho
chắc. Trong lúc H'Bia lui cui múc nước và soi lại cho thông cái cần hút, Đăm Săn
nhanh chóng đem về một ôm lá chuối khô, xoay tròn ấn vào ché. Họ lặng thinh
làm, không nói gì với nhau, cũng không gọi tôi tớ.
Hai người ngồi bên nhau, tay cùng đặt lên cần rượu, chân đạp lên chân, mắt
nhìn trong mắt. Nếu có hai chiếc cần, thầy cúng, cái rìu và đôi vòng đồng nữa, thì
đã thành lễ cưới của họ rồi. Mặt ché đầy nước sóng sánh như ánh mắt H' Bia đắm
đuối nhìn người yêu. Đam San dịu dàng nâng cần rượu đặt lên môi nàng:
– Uống đi H'Bia. Cho Đăm Săn được tiếp em uống rượu lần sau chót. Rượu
có đắng ta cũng coi là rượu ngọt mà uống cùng nhau.
Đôi mắt H'Bia mở to, lóng lánh như cặp mắt con mang nhỏ Đăm Săn bẫy
được mà không nỡ giết, lại chữa vết thương rồi giữ cho nó quen đùa với hai người
mỗi lần đi thăm rẫy.
(1)
Dân ca Ê Đê..
15
– Có việc gì Đăm Săn? Chị em nhà anh không cho hai đứa mình thương
nhau sao?
– Không phải đâu H'Bia. Chỉ là H'Nhí và H'Bhí cho các anh trai đem lời ông
nội đến nhà. Đã đến lúc theo luật tục nối dây, anh phải về nhà hai nàng đó làm
người đổi trâu bò lấy ching ché, lấy voi. Ngồi trên chiếu hoa làm sang cho nhà họ.
– Còn em sao Đăm Săn?
– Ờ, H'Bia khi nào cũng ở trong đầu, trong mắt, trong ngực Đăm Săn đây nè.
Nhưng bao đời nay, em có thấy ai cãi lời luật tục không? Việc này đã được ông Y
Kla của anh dặn dò từ khi ông còn phải cõng H'Bhí trên lưng, bế Đăm Săn bên vế
trái, ôm H'Nhí một bên vế phải, cách nay mười lăm mùa rẫy rồi đó em.
– H'Bia không chịu đâu Đăm Săn. Mình thương nhau đã hai lần hoa tăng bi
gửi hương cho gió rồi. Nhà em cũng danh giá, giàu sang đâu có kém gì H'Nhí,
H'Bhí? Dòng họ Êban cũng được quyền cưới họ Niê Kdăm chứ.
– Nhưng còn sợi dây nối nòi, làm sao dứt đứt được?
H'Bia tựa đầu lên vai Đăm Săn. Mái tóc dài thơm ngát của nàng xổ tung, quấn
quýt lên cổ, lên vai, lên tấm lưng trần của chàng Đăm Săn. Họ khép mắt im lặng
ngồi bên nhau… H'Bia đi trước trên con đường rừng vắng, hai bên dày đặc những
bông hoa mnga phí(1) – dã quỳ vàng óng giữa đám lá xanh mướt. Đôi gót chân đỏ
như bôi đất non của nàng bước tung tăng trong tiếng đinh năm dìu dặt. Tiếng kèn
như nâng bước chân và tiếng hát H' Bia Lược ngà anh dắt mái tóc xoăn/ Để em
mơ đêm thương ngày nhớ/ Chiếc chiếu em một bên mốc dở/ Bởi không có người
nằm kề bên/ Ơ anh…(2).
Đăm Săn cũng say trong nhịp điệu của câu hát Arei. Người chàng lắc lư, đôi
chân và cả thân mình nhấc lên, nhún xuống, tua khố tung bay. Những con chim
kơtia mỏ đỏ, chim nhông mỏ vàng kéo hàng đàn ríu rít sà xuống theo hai người.
Góc rừng anh công kiêu hãnh xoè hết chiếc đuôi lóng lánh những hình mặt trời
xanh, khoe mẽ với nàng công đang yểu điệu rón rén từng bước. Tiếng suối róc
rách ngân nga đâu đây trong bài ca bất tận của núi rừng và tình yêu. Từng chùm
hoa xoài trắng đung đưa trong nắng… Đăm Săn ngửa mặt gọi thần mặt trời:
– Ông ơi, thả cho cháu cái thang.
Chiếc thang vàng óng kéo lên. Ông Gỗn cười ha hả hỏi Đăm Săn:
– Hai vợ cháu đang đi đón đó, sao chưa về đi. Từ nay đừng làm con mang,
con hoẵng lang thang trong rừng nữa nghe. Phải làm cây cột cái trong nhà chớ.
– Nhưng cháu thương H' Bia Điết Klứt ông à. Nàng cũng ưng cưới cháu nữa.
Chúng cháu muốn ăn cơm một mâm, ngủ chung một chiếu, hút cùng một ống
điếu. Sao bắt cháu nối dây với H'Nhí, H'Bhí? Cháu đâu có ưng hai nàng đó.
(1)
(2)
16
Hoa dã quỳ.
Dân ca Ê Đê.
– Sợi dây ràng buộc dòng họ Niê với Mlô đã có từ ngàn xưa ông bà rồi. Bà
H'Klu chết, họ Mlô phải đem H'Nhí cho ông Y Kla. Bây giờ đến lượt cháu phải
thay ông nội làm chồng H'Nhí, H'Bhí. Niê với Mlô kết đôi, của cải mãi mãi sinh sôi,
buôn làng đời đời no ấm. Đăm Săn ưng làm tù trưởng hay làm tôi tớ giữ bò, giữ
ngựa cho H'Nhí?
– Có đúng cháu lấy hai nàng đó sẽ thành tù trưởng hùng mạnh, giàu có nhất
vùng không?
– Ông Gỗn sao nói sai lời với cháu?
Hai người mở bừng mắt. Họ vẫn ngồi bên nhau mà thiếp đi, mỗi người một
giấc mơ. Chiếc cần rượu bị bỏ quên không ai uống, chảy tong tong xuống sàn,
loang ướt cả vạt gỗ.
Đăm Săn quấn mái tóc thơm của H'Bia quanh cổ như tấm khăn. Hai tay chàng
nâng khuôn mặt người yêu. H'Bia nhắm mắt, dòng lệ trong veo lăn trên đôi má mịn
màng. Đăm Săn ghé môi nhấp cạn giọt lệ của người thương. Mắt chàng không
rời khuôn mặt nàng, cố khắc ghi những nét yêu thương mai này không còn được
ngó thấy… Này hàng mi dài, H'Bia ưng ghé sát má chàng rồi chơm chớp, thích thú
thấy chàng bị nhột. Cặp môi xinh, hàng răng trắng đều như bắp nếp, không còn
được gửi cho chàng những nụ cười hoa nở nữa. Khắp bao bến nước, không có cô
gái nào có suối tóc dài thơm ngát như H'Bia. Hương tóc ngọt ngào này chàng sẽ
không bao giờ được úp mặt vào hít thở. Không còn nữa lời đinh năm buổi sáng,
câu hát với đàn goong những đêm trăng xanh. Im lặng úp mặt trong tóc, họ ôm
riết lấy nhau, bện trong nhau như ...
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Đỗ Tường Hiệp (Chủ biên) – Krông Ái Hương Lan – Tô Minh Hùng – Niê Thanh Mai
Nguyễn Thị Tăng – Trần Thị Thái Hà – Mai Thanh Sơn – Hoàng Thị Kiều Oanh – Y Lam Niê
Đặng Nguyên Hà – Tống Xuân Tám – Đỗ Thị Thuỳ Dương – H'Ner B'Krông
Huỳnh Ngọc La Sơn – Ngô Tiến Sỹ
TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG
TỈNH ĐẮK LẮK
Lớp
12
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
2
Lời nói đầu
Các em học sinh thân mến!
Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Đắk Lắk được biên soạn
theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 nhằm giới thiệu cho học
sinh những hiểu biết về địa phương, nơi các em đang sinh sống. Từ đó,
bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương đất nước; lòng tự hào và
có ý thức tìm hiểu, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hoá của quê hương
Đắk Lắk. Thông qua những bài học sinh động, gần gũi với cuộc sống
diễn ra xung quanh, các em có thể gắn kết và vận dụng những kiến thức
đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn.
Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Đắk Lắk lớp 12 gồm 8
chủ đề được biên soạn theo hướng tích hợp các lĩnh vực: văn hoá, lịch
sử truyền thống; địa lí, kinh tế, hướng nghiệp; chính trị – xã hội; môi
trường. Mỗi chủ đề được thiết kế theo các bước: mục tiêu, mở đầu, kiến
thức mới, luyện tập và vận dụng.
Với sự hướng dẫn của các thầy, cô giáo, các em hãy tích cực học
tập và trải nghiệm để hiểu biết thêm về nơi mình sinh sống, đồng thời
thêm yêu mến và gắn bó với quê hương mình.
Chúc các em có những giờ học, hoạt động trải nghiệm thật thú vị
và bổ ích với Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Đắk Lắk lớp 12.
Các tác giả
3
Các kí hiệu sử dụng trong tài liệu
MỤC TIÊU
Nêu những năng lực và phẩm chất học sinh cần
hình thành sau khi học.
MỞ ĐẦU
Kết nối với những điều học sinh đã biết, nêu vấn đề
nhằm kích thích tư duy, tạo hứng thú đối với bài mới.
KIÊN THÚC MÓI
Thông qua các hoạt động học tập giúp học sinh khai
thác, tiếp nhận kiến thức mới.
LUYỆN TẬP
Cung cấp các câu hỏi, bài tập thực hành để củng cố
kiến thức, rèn luyện các kĩ năng gắn với kiến thức
vừa học.
VẬN DỤNG
Sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các
tình huống, vấn đề trong thực tiễn.
Em có biết
Thông tin hỗ trợ, bổ sung nhằm làm rõ hơn nội
dung chính.
Nghe bài hát và cảm nhận giai điệu.
4
Mục lục
Trang
Lời nói đầu
03
Các kí hiệu sử dụng trong tài liệu
04
Chủ đề 1. Văn học viết Đắk Lắk giai đoạn từ 1975 đến nay
06
Chủ đề 2. Hoạt động âm nhạc tỉnh Đắk Lắk từ năm 1975 đến năm 2024 23
Chủ đề 3. Mĩ thuật Đắk Lắk từ năm 1975 đến nay
32
Chủ đề 4. Đắk Lắk vững bước trên đường đổi mới, hội nhập
và phát triển từ năm 1986 đến nay
43
Chủ đề 5. Lao động và việc làm ở Đắk Lắk
56
Chủ đề 6. Đắk Lắk trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
63
Chủ đề 7. Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên ở tỉnh Đắk Lắk 72
Chủ đề 8. Thực hiện chính sách an sinh xã hội ở tỉnh Đắk Lắk
80
5
CHỦ ĐỀ
1
VĂN HỌC VIẾT ĐẮK LẮK
GIAI ĐOẠN TỪ 1975 ĐẾN NAY
MỤC TIÊU
– Nêu được những kiến thức cơ bản về văn học viết Đắk Lắk giai đoạn
từ 1975 đến nay.
– Có khả năng giới thiệu được một tác giả, một tác phẩm; bước đầu
nghiên cứu một thể loại, một đề tài, một vấn đề về nội dung tư tưởng,…
– Liên hệ được với thực tiễn đời sống về những vấn đề được phản ánh
trong văn học viết Đắk Lắk giai đoạn từ 1975 đến nay.
– Đọc hiểu được một số tác phẩm tiêu biểu của văn học giai đoạn này.
MỞ ĐẦU
– Em biết gì về văn học viết Đắk Lắk giai đoạn từ 1975 đến nay?
– Hãy kể tên một vài tác phẩm hoặc tác giả văn học viết Đắk Lắk giai
đoạn từ 1975 đến nay.
– Trình bày một bài hát được phổ thơ từ tác phẩm văn học Đắk Lắk.
KIÊN THÚC MÓI
I. KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC VIẾT ĐẮK LẮK GIAI ĐOẠN TỪ 1975 ĐẾN NAY
1. Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá
Chiến thắng Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975 không chỉ là một sự kiện lịch sử
mà còn là một dấu mốc quan trọng đối với Nhân dân Việt Nam nói chung, đồng
bào Tây Nguyên nói riêng. Những ngày mới giải phóng, ngoài những khó khăn
chung của cả nước, Đắk Lắk gặp không ít khó khăn như: sự chia rẽ đoàn kết dân
tộc của tổ chức FULRO(1), sự chống phá của bè lũ Khmer Đỏ ở biên giới Tây Nam,
FULRO (Mặt trận thống nhất đấu tranh của các sắc tộc bị áp bức) đọc là Phun-rô, tiếng Pháp: Front Uni de Lutte
des Races Opprimées là liên minh chính trị – quân sự của các sắc tộc Cao nguyên Trung phần, Chăm, Khmer tồn
tại từ năm 1964 đến năm 1992. Sau năm 1975, FULRO được sự hậu thuẫn của các tổ chức phản động lưu vong
vẫn ráo riết hoạt động, thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, đòi ly khai Tây Nguyên. Dưới sự giật dây
của những “ông chủ” ở nước ngoài, tổ chức này đã gây ra hàng loạt vụ tập kích ở nhiều buôn làng, sát hại và làm
bị thương hàng nghìn người dân vô tội, trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng cho đồng bào Tây Nguyên.
(1)
6
tư tưởng thù nghịch của một số người với chế độ mới vẫn âm ỉ chờ dịp bùng phát,
trình độ dân trí chưa cao; âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch
bên ngoài,... Nhưng, đúng như quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định
“Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận”, những hoạt động của văn học phải
bám chắc phương hướng, nhiệm vụ chính trị, góp phần làm nên những thắng lợi
chung. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kế thừa những áng thơ văn đầy sức chiến
đấu hào hùng qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, phát huy ý chí
và tinh thần của ngày 10/3 lịch sử..., văn nghệ sĩ ở Đắk Lắk trở thành một trong
những lực lượng xung kích, có bản lĩnh chính trị, làm tốt chức năng xây dựng đời
sống văn hoá – tinh thần cho xã hội; chung sức, chung lòng cùng với nhân dân
tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn lao góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thực tế cho thấy, trong những ngày đầu đất nước thống nhất, văn học Đắk
Lắk gặp rất nhiều khó khăn:
– Thứ nhất, về tổng thể, đó là một nền văn học chưa có bề dày. Văn học viết
xuất hiện muộn, chủ yếu là truyền tay nhau hoặc truyền miệng giữa những tù
chính trị trong nhà đày (đáng tiếc, những tác phẩm bị thất lạc gần hết); những tác
phẩm thơ văn được sáng tác trong thời kì chống Mỹ và đấu tranh thống nhất đất
nước hầu như chỉ nằm ở dạng bản thảo vì không có điều kiện in ấn,... Có thể nói,
tính kế thừa sẵn có trước 1975 của văn học viết ở Đắk Lắk là rất hạn chế.
– Thứ hai, ngay sau ngày giải phóng Buôn Ma Thuột 1975, lực lượng sáng
tác ở Đắk Lắk còn non trẻ. Số lượng văn nghệ sĩ thuộc diện “những người đi từ
rừng ra” (tức những người từng tham gia kháng chiến chống Mỹ và đấu tranh
thống nhất Tổ quốc tại chiến trường Đắk Lắk) cũng còn ít, lực lượng chi viện tăng
cường chủ yếu nằm ở hai phương diện: xây dựng – quản lí (về mặt kinh tế) và an
ninh – quốc phòng. Bên cạnh đó, vào những thập kỉ cuối của thế kỉ XX, Đắk Lắk
còn là một tỉnh nghèo so với mặt bằng chung cả nước, thu chưa đủ chi, địa bàn
rộng lớn, vẫn bị coi là miền hoang sơ, cơ sở hạ tầng thấp kém, việc thông thương
giữa các vùng miền trong khu vực cũng như với các tỉnh bạn còn khó khăn, đời
sống văn hoá – tinh thần có nhiều hạn chế. Bởi vậy, việc giữ được nhân tài, cán bộ
ngành văn hoá thông tin (và an ninh – quốc phòng) đã khó, việc thu hút nhân tài và
các cán bộ đến với Đắk Lắk và ở lại Đắk Lắk càng khó hơn. Như một lẽ tất nhiên,
mặt trận văn học nghệ thuật cũng bị ảnh hưởng tác động sâu sắc. Lực lượng văn
nghệ sĩ vốn đã ít ỏi, lại phải lo bươn chải với cuộc sống để kiếm thêm thu nhập
bằng cách này hay cách khác, nên khó có thời gian thâm nhập vào đời sống thực
tế, không có điều kiện để tiếp nhận những thông tin mới và sự giao lưu để học tập
kinh nghiệm, không thể dồn hết tâm huyết cho việc sáng tạo văn học nghệ thuật...
Trước bối cảnh lịch sử xã hội nói chung và Đắk Lắk nói riêng, sự chỉ đạo từ
các nghị quyết Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk về công tác văn hoá –
văn nghệ; các Nghị quyết của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ
thuật Việt Nam, văn học – nghệ thuật Đắk Lắk không nằm ngoài quỹ đạo chung
trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân các dân tộc, gắn bó với nền văn hoá cổ
truyền, vì một nền văn học – nghệ thuật dân tộc và hiện đại. Để đoàn kết, tổ chức,
7
động viên những người làm công tác văn nghệ, Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh
đã tiến hành thành lập Ban vận động thành lập Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk.
Từ ngày 4/9 đến ngày 5/9/1990, Đại hội thành lập Hội Văn học Nghệ thuật
Đắk Lắk thành công tốt đẹp đánh dấu bước ngoặt lịch sử trên chặng đường phát
triển của văn học – nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk. Ban đầu, Hội Văn học Nghệ thuật Đắk
Lắk (gọi tắt là Hội Văn nghệ Đắk Lắk, viết tắt là Hội VHNT Đắk Lắk) có 45 hội viên
thuộc các chuyên ngành: văn học, âm nhạc, mĩ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu – biểu
diễn, văn hoá dân gian, kiến trúc. Hội Văn nghệ trở thành một tổ chức, chịu sự chỉ
đạo của Tỉnh uỷ, do Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lí, là thành viên của Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đắk Lắk. Hội là nơi tập hợp lực lượng các văn nghệ sĩ
trong tỉnh, tạo điều kiện cho họ phát huy tiềm năng sáng tạo văn học, nghệ thuật
để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hội cũng đồng thời vừa là vườn ươm
vừa là vườn hoa trái của văn học, nghệ thuật ở địa phương và cả nước.
2. Đặc điểm của văn học viết Đắk Lắk giai đoạn từ 1975 đến nay
Đặc điểm nổi bật của văn học Đắk Lắk là thiếu tính kế thừa dòng văn học viết
từ các giai đoạn trước, đội ngũ sáng tác đa số là không chuyên, những người cầm
bút sáng tác văn học được sinh ra và lớn lên ở Đắk Lắk trong giai đoạn sau năm
1975 là rất ít (đại đa số từ nhiều miền quê khác nhau về đây và chọn Đắk Lắk làm
quê hương thứ hai của mình), Hội Văn học Nghệ thuật ra đời muộn (so với mặt
bằng chung của cả nước).
Về đội ngũ sáng tác, sau năm 1975, ngoài những người “đi từ rừng ra” còn
được bổ sung thêm lực lượng mới là các trí thức được điều động từ miền Bắc vào
tiếp quản, những cán bộ mới ra trường được phân công vào Đắk Lắk, những học
sinh đã hết cấp III được tuyển vào học các khoá đào tạo ngắn hạn để phân bổ về
Đắk Lắk công tác tương đối đông đảo. Nhưng do giao thông khó khăn, thông tin
liên lạc còn lạc hậu, không ở lại sau khi hết thời gian nghĩa vụ; việc in ấn sách báo
rất hạn chế cả về số lượng và hình thức.
Từ sau năm 1990, văn học Đắk Lắk tiếp tục đi sâu vào ca ngợi khí thế hào
hùng của dân tộc nói chung và Đắk Lắk nói riêng, ca ngợi cuộc sống mới sinh sôi,
vững tin vào tương lai; đấu tranh với những tàn dư của chế độ thù địch, đấu tranh
với những thế lực phản động đang âm mưu “diễn biến hoà bình”, đề cao tinh thần
cảnh giác với những thủ đoạn phá hoại gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đấu
tranh với những tư tưởng lạc hậu,... cổ vũ ý chí cách mạng kêu gọi mọi người góp
sức vào công cuộc xây dựng đất nước, tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức phụng
sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân,...
Văn học viết ở Đắk Lắk có tuổi đời khá non trẻ và có những đặc điểm riêng
của một vùng văn hoá.
Đắk Lắk không có xưởng phim, không có đoàn kịch chuyên nghiệp (đến nay có
Đoàn Ca múa Dân tộc Đắk Lắk và các Đội thông tin lưu động). Chính vì thế, kịch
bản văn học Đắk Lắk hầu như không có. Tất cả các kịch bản xuất hiện ở Đắk Lắk
chỉ ở dạng làm công tác tuyên truyền, cổ động các phong trào, do các đội thông tin
8
lưu động trình diễn. Cũng đã có tác giả chuyển thể từ truyện sang kịch bản nhưng
không thành công, không gây được ấn tượng khi dựng thành phim truyền hình.
Về lí luận và phê bình văn học, hầu như chỉ ở mức độ nghiệp dư chưa có tính
chuyên nghiệp theo đúng yêu cầu. Mỗi khi có đầu sách được xuất bản, cũng có
xuất hiện bài viết đánh giá, nhận định, bình luận,… nhưng cũng chỉ là sự đồng
điệu trong quá trình đọc và cảm thụ. Có nghĩa là chỉ thiên về bình chứ chưa hẳn
là “phê”, càng ít hơn nữa là sự đòi hỏi phải nghiên cứu và viện dẫn bằng “ý”.
Lực lượng sáng tác ở Đắk Lắk là nơi “trăm miền quê góp nên một miền quê”,
do đó đội ngũ văn nghệ sĩ Đắk Lắk đa số là từ nơi khác đến, chọn Đắk Lắk là quê
hương mới của mình. Bởi vậy, bên cạnh những khó khăn cũng có những thuận lợi
cho hoạt động sáng tác văn học, nghệ thuật. Với 49 dân tộc từ nhiều vùng miền về
đây sinh cơ lập nghiệp, Đắk Lắk trở thành miền đất đa sắc tộc, đa văn hoá, căng
nhựa sống,... nhiều tiềm năng để khai thác phục vụ việc sáng tạo văn học, nghệ
thuật. Chính vì thế, văn học Đắk Lắk có tiếng hát của trăm miền, đậm chất sử thi
nhưng không thiếu tính hiện đại, có tính triết luận của xứ Bắc nhưng cũng có sự
mộc mạc của phương Nam, có cánh cò chấp chới và cũng có tiếng vó ngựa ô dồn
dập,... Những người cầm bút ở Đắk Lắk có ý thức kết hợp các tinh hoa văn hoá của
các dân tộc, kết hợp việc bảo tồn, phát huy các yếu tố truyền thống tốt đẹp của dân
tộc mình hoặc của quê hương xứ sở, đồng thời biết giao lưu, tiếp thu các yếu tố tiên
tiến để làm giàu cho nền văn hoá trên vùng đất đã được coi là máu thịt của mình.
Đội ngũ sáng tác văn thơ ở Đắk Lắk xuất thân từ nhiều tầng lớp, nhiều ngành
nghề trong xã hội. Đó có thể là giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, bộ đội, cán bộ lãnh đạo,
nhà báo, người thợ, sinh viên, học sinh,... Tất cả đã đến với văn chương bằng sự
yêu say và lòng đam mê tự nguyện, cho nên văn thơ Đắk Lắk gần gũi với nhân
dân, gắn mình với cuộc sống, làm tốt nhiệm vụ chính trị của mình. Đó là những
con người biết làm cho những người ở xa Đắk Lắk, hoặc chưa một lần đặt chân
đến vùng đất này nhưng vẫn thấu hiểu được màu đất đỏ badan là sự tươi ròng
của máu và hoa cùng hoà quyện với hàng triệu trái tim đang gắn bó máu thịt với
đất đai và truyền thống của mình, cùng đắm chìm với hương vị cà phê, biết được
sự ẩn chứa trong cái vẻ màu xanh bạt ngàn của cao su là những dòng nhựa trắng,
thấy rõ được trong cái hoang sơ của đại ngàn là xu thế phát triển về mọi mặt của
đời sống, cảm thông được với những khó khăn gian khổ của con người Đắk Lắk
đang gồng mình để vươn lên trong cái khốc liệt của mưa nắng Tây Nguyên để xây
dựng cuộc sống mỗi ngày thêm đẹp.
Lực lượng văn nghệ sĩ Đắk Lắk đã biết kế thừa tinh hoa truyền thống biết
tận dụng nền văn hoá đa dạng và phong phú của nhiều dân tộc, nhiều vùng miền
đang cùng chung sống trên mảnh đất hào hùng lịch sử, phát huy khả năng sáng
tạo, xác định vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ chính trị của mình trong công cuộc
kiến thiết nước nhà. Bản thân mỗi cá nhân luôn tự xác định phải đóng góp hết khả
năng và sức lực của mình cho cuộc sống, cho Tổ quốc trên con đường xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Bởi thế, văn học Đắk Lắk không ngừng hoàn thiện mình để đóng
góp cho văn học nước nhà bằng diện mạo của riêng mình trong dòng chảy chung.
9
Xét theo thời gian gắn bó với Đắk Lắk, có thể phân chia thành hai lớp. Lớp
“những người đi từ trong rừng ra” có thể kể đến các đồng chí lãnh đạo tỉnh như:
Nguyễn Xuân Nguyên, Huỳnh Văn Cần, Ama H'Oanh (Tô Tấn Tài) với những bài
thơ nghiêng về công tác tuyên truyền, cổ động và một số ít người viết mang tính
nghệ thuật như: Hữu Chỉnh, Trúc Hoài, Nguyễn Hữu Trí, Vũ Nhật Hồng hoặc là
những cán bộ được điều động, tăng cường từ nơi khác chuyển đến như: Nhị Hà,
Thiên Lương, Chính Tâm, Triệu Cơ, Hoàng Chuyên.
Đội ngũ sáng tác văn học ở Đắk Lắk bao gồm nhiều độ tuổi, nhiều tầng lớp,
bên cạnh những tác giả đã có “độ chín”, có nhiều tác giả trẻ trưởng thành sau thời
kì đổi mới và một số tác giả ở nhiều địa phương khác tham gia đóng góp cho văn
học tỉnh nhà.
Văn học Đắk Lắk từ sau năm 1975 là một bộ phận của văn hoá Đắk Lắk nói
riêng và nền văn hoá Việt Nam nói chung, là một dòng chảy đang từng ngày từng
ngày hoà mình vào con sông lớn để nhập vào biển cả văn học dân tộc và nhân
loại. Mỗi người cầm bút sáng tạo ở Đắk Lắk giống như một mạch nước góp phần
cho dòng chảy thêm lớn mạnh. Mạch nước nào cũng nặng tình nghĩa với đất, luôn
có cảm giác nặng nợ với đất và người nơi đây cho nên người nghệ sĩ Đắk Lắk
không ngừng nâng cao tay nghề, thật sự tâm huyết để vươn lên đóng góp được
nhiều hơn nữa vào văn học tỉnh nhà cũng như văn học cả nước.
1. Nêu những đặc điểm cơ bản về bối cảnh lịch sử Đắk Lắk giai đoạn
từ 1975 đến nay.
2. Văn học viết Đắk Lắk giai đoạn từ 1975 đến nay có những đặc điểm
nổi bật nào về đội ngũ sáng tác và nội dung tư tưởng?
II. THỂ LOẠI TIÊU BIỂU
1. Thơ ca
Nhìn chung, văn học Đắk Lắk giai đoạn từ 1975 đến nay có lực lượng sáng tác
thơ ca khá đông đảo. Nhiều nhà thơ đã trở thành quen thuộc đối với độc giả với nhiều
phong cách khác nhau như: Hữu Chỉnh, Hoàng Chuyên, Uông Ngọc Dậu, Vũ Di, Trúc
Hoài, Dương Thế Hoàn, Vũ Nhật Hồng, Hoàng Thiên Nga, Lê Vĩnh Tài, Chính Tâm,
Nguyễn Thị Thái, Văn Thanh, Tiến Thảo, Đinh Thị Như Thúy, Sơn Thúy, Lệ Thuỷ,
Hoàng Mạnh Thường, Đặng Bá Tiến, Đinh Hữu Trường, Hương Vũ, Bùi Minh Vũ,
Văn Thảnh, H Trem Knul,...
Các tác giả đã góp những vần thơ ấm áp tình đất, tình đời làm nên “gương
mặt cao nguyên” đa thanh đa điệu, đa sắc màu văn hoá của mọi vùng miền Tổ
quốc và cũng đa dạng cách cảm cách nghĩ đối với Đắk Lắk – vùng đất chiến lược
về quốc phòng, giàu tiềm năng về kinh tế, có cuộc sống mới sinh sôi nảy nở và
phát triển từng ngày từng giờ. Đắk Lắk đã trở thành vùng đất của thi ca không chỉ
đối với những con người đang sống và làm việc ở Đắk Lắk mà cả những người
bạn đến với Đắk Lắk và những người chưa một lần đặt chân đến nơi đây.
10
Hầu như những nhà thơ ở Đắk Lắk đều đã chọn mảnh đất này là quê hương thứ
hai của mình, chính vì thế trên thi đàn thơ ca Đắk Lắk, ta dễ bắt gặp rất nhiều cách cảm,
cách nghĩ của các vùng miền Bắc – Trung – Nam và các thành phần dân tộc trong đại
gia đình các dân tộc Việt Nam hoà với nắng gió Tây Nguyên, với màu đất bazan, với
hương vị rượu cần,... góp phần làm giàu bản sắc văn hoá của một vùng đất.
Ngoài sự kế thừa bản sắc văn hoá vùng miền của nơi chôn nhau cắt rốn, các
nhà thơ còn có sự kế thừa của vùng đất sử thi hoang sơ và dữ dội, có sự phát huy
để viết tiếp về một vùng đất có lịch sử hào hùng trong hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ cũng như công cuộc xây dựng cuộc sống mới hôm nay, có sự
tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhiều vùng miền, nhiều dân tộc, nhiều xứ sở theo
con người tìm về vùng đất lành chim đậu,... Tuy nhiên, mỗi “con người thơ” ở Đắk
Lắk có tâm hồn riêng, cá tính sáng tạo riêng, có nhãn quan về cuộc sống để phản
ánh vào trong thơ bằng phong cách riêng. Bởi vậy, diện mạo thơ Đắk Lắk trong
cái chung của thơ từ một vùng đất vẫn khiến ta nhận thấy cá tính sáng tạo riêng
của mỗi thi nhân. Mỗi người là một tâm hồn thơ, tạo nên những vẻ đẹp riêng của
thơ, làm cho thơ Đắk Lắk phong phú và đa dạng, muôn màu muôn vẻ.
2. Văn xuôi
Nếu thơ có đội ngũ đông đảo về số lượng tác giả thì ở văn xuôi lại có số lượng
khá khiêm tốn. Tuy văn xuôi mỏng hơn so với thơ về cả số lượng và chất lượng
nhưng cũng đã phần nào xây dựng được bức tranh sinh động về đời sống. Đó
là những trang viết về một thời hào hùng đấu tranh giải phóng quê hương, thống
nhất đất nước, những gian nan thử thách trong buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở vùng đất mới hồi sinh, những trăn trở trước cuộc sống còn bề bộn lo toan,
những vết thương chiến tranh còn gây nhức nhối,…
Nhiều tác giả truyện và ký của Đắk Lắk thường được nhắc đến như: Hồng
Chiến, Hữu Chỉnh, Trương Công Đản, Trúc Hoài, Ngô Văn Hưng, Nguyên Hương,
Thiên Lương, Niê Thanh Mai, H'Linh Niê (Linh Nga Niê Ndam),... Bên cạnh đó,
còn có những tác giả ở Đắk Lắk chuyên sáng tác thơ nhưng cũng có lúc sáng tác
văn xuôi như Uông Ngọc Dậu, Lê Tiến Dị, Hoàng Mạnh Trang, Nguyễn Lưu, Đồng
Xuân Lan, Mai Thanh Chương, Hoàng Thiên Nga, Đinh Thị Như Thuý,... Đó là
những tên tuổi đã góp phần nâng cao về chất tác phẩm, tiếp thêm sức cho dòng
văn xuôi Đắk Lắk chảy mạnh hơn, nhiều phù sa hơn.
1. Thơ ca giai đoạn từ 1975 đến nay có đặc điểm lớn nào về nội dung
tư tưởng?
2. Văn xuôi giai đoạn này có những đặc điểm nổi bật nào? Kể tên một
vài tác giả, tác phẩm mà em biết.
3. Sưu tầm một số tác phẩm (thơ, truyện) của văn học viết Đắk Lắk
giai đoạn từ 1975 đến nay mà bản thân tâm đắc, ấn tượng.
4. Viết bài văn giới thiệu về một tác phẩm thơ hoặc truyện và ký của
văn học viết Đắk Lắk giai đoạn từ 1975 đến nay.
11
III. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
VĂN BẢN 1
VẾT BÙN TRONG KẼ MÓNG CHÂN MẸ TÔI
Kính dâng hương hồn Mẹ
Tôi cắt móng tay móng chân cho Mẹ
trước khi tiễn Người về với Tổ tiên
tôi thấy vết bùn đồng chiêm
ăn sâu vào kẽ móng
ôi cái vết bùn làm sao xoá nổi
để Người được thanh thản gót tiên!
Bà tôi kể:
năm ấy đồng Biền
nước mênh mông trắng rợn
bụng vượt mặt Mẹ còn đi cấy mướn
khi chuyển sinh chúng bạn mới dìu về
chỉ kịp trườn lên chiếc chõng tre
rồi vỡ ối sinh tôi
hai chân Mẹ vẫn dính đầy bùn đất…
Cha tôi đi đánh giặc
đôi vai gầy Mẹ tôi gánh số phận cả nhà
năm cái miệng há chờ bàn tay Mẹ
bàn tay không hề phút giây được nghỉ
cả lúc đi nằm còn phải giữ trán suy tư
Năm hai vụ chiêm mùa
cây lúa lên từ bàn tay Mẹ
cây lúa lên theo dấu chân Người nứt nẻ
tiết hanh heo gió xiêu dạt dáng cò
Ai hài gấm, giày thêu quần áo lượt là
Mẹ tôi suốt ngày chân dầm trong bùn đất
12
– Đặng Bá Tiến –
khi cày cấy khi mò cua bắt ốc
áo váy phong phanh mấy lớp vá chằm
Bao ngọn gió vui, buồn đã thổi qua mặt đồng chiêm
mà dáng Mẹ tôi trên đồng vẫn thế
mặt úp vào mặt ruộng
Mẹ chỉ ngẩng lên khi nhìn xuống con mình!
Chúng tôi lớn khôn
đất nước gọi lên đường
nào đã kịp làm gì giúp Mẹ
chỉ làm Mẹ thêm phần gian khổ
bao đêm nằm không ngủ nhớ con xa
Bưng bát cơm thơm chúng tôi lại thương Mẹ ở quê nhà
trong bát cơm này có hạt cơm đồng chiêm của Mẹ
Mẹ đã già mà hạt thóc về tay người chẳng dễ
Phải giành giật với nắng mưa
với bao thứ chuột rầy
Chúng tôi trở về sau cuộc chiến tranh
lại bươn bả với những công trình mùa vụ
Mẹ bảy mươi rồi biết bao vất vả
công ơn Mẹ chúng tôi chưa kịp đáp đền
nhưng phút lâm chung Mẹ gọi tên từng đứa
Mẹ dặn: đừng bao giờ phụ bạc cánh đồng chiêm!
Ôi cái vết bùn trong kẽ móng chân
tôi không muốn Mẹ phải mang theo về nơi tiên tổ
nhưng tôi biết xoá đi không dễ
vết bùn già hơn tuổi Mẹ tôi!
1988
(Trích Đặng Bá Tiến, thơ chọn, NXB Hội Nhà văn, 2022, tr.131-133)
13
1. Bài thơ Vết bùn trong kẽ móng chân Mẹ tôi được viết theo thể thơ nào?
Thể thơ này có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện cảm xúc của chủ thể trữ
tình?
2. Mạch vận động của cảm xúc được thể hiện như thế nào trong bài thơ?
Qua đó, em hãy xác định bố cục của văn bản.
3. Hình ảnh Mẹ tôi hiện lên qua những mốc thời gian nào trong cuộc đời của
nhân vật trữ tình? Các mốc thời gian được sắp xếp theo trình tự nào? Ý nghĩa
của trình tự này là gì?
4. Hình ảnh “Vết bùn” xuất hiện bao nhiêu lần trong bài thơ? Ý nghĩa biểu
tượng của hình ảnh này?
5. Bài thơ sử dụng những biện pháp tu từ nào? Hãy phân tích một biện pháp
tu từ tiêu biểu.
6. Từ nội dung bài thơ và những trải nghiệm của bản thân, hãy lí giải vì sao tình
mẫu tử là một trong những tình cảm thiêng liêng trong cuộc đời của con người?
7. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 – 10 dòng) nêu cảm nhận về một câu
thơ/ý thơ bản thân tâm đắc.
8. Bài thơ Vết bùn trong kẽ móng chân Mẹ tôi đưa đến cho em thông điệp gì?
VĂN BẢN 2
HOA BLANG
(Viết tiếp chuyện tình chàng Đăm Săn)
– H'Linh Niê –
Đăm Săn bỏ mặc khách cầu hôn ngồi chật nhà cho chị em H'Âng, H'Lí tiếp.
Chàng cuốn gọn mớ tóc dài trong chiếc khăn bịt đầu đỏ chói của tù trưởng, gỡ
chiếc xagac treo trên vách, nhảy qua cửa sổ buông mình xuống giữa lưng ngựa,
phóng đi không hề ngoảnh lại.
Bước chân ngựa vẫn như hàng ngày nhanh hơn cơn gió. Thân hình Đăm Săn
vẫn dẻo như nõn mây. Nhưng dường như hôm nay tai chàng không nghe được
tiếng động nào, ngoài tiếng nói cứ nhắc đi nhắc lại trong đầu:
– Phải đến ngay nhà H'Bia Điết Klứt(1).
Tiếng con chim tao vao vắt vẻo trên cột gỗ ở cổng đầu buôn, chao chác gọi
bạn tình chẳng lọt lỗ tai chàng. Cơn gió ù ào luồn qua rừng khộp, đùa giỡn tung
những chiếc lá đỏ tơi tả bay đầy trời, không khiến mắt Đăm Săn chú ý. Thúc ngựa
lội ào qua suối, nước ngập tới ức ngựa, ướt cả đuôi khố, chàng không hay.
H'Bia Điết Klứt: là một nữ tù trưởng, người yêu của Đăm Săn, mà theo luật tục, chàng buộc phải bỏ để cưới
hai nàng H'Nhí & H'Bhí (Theo sử thi Đăm Săn).
(1)
14
– Không! Không Không thể lấy H'Nhí, H'Bhí làm vợ. Dù cho hai nàng có đẹp,
có giàu. Ta đã thuộc về H'Bia Điết Klứt.
Tiếng lách cách của khung dệt báo Đăm Săn biết người yêu đang dệt vải. Vịn
tay đầu sàn, chàng ghé nhìn qua khung cửa. H'Bia bên cửa sổ vẫn đang vừa luồn
chỉ vừa hát Dệt tấm khố em mong anh về/ Trao tấm áo để đón anh về/ Mẹ bảo em
rằng anh sẽ về/ Mai mốt anh về như chim có bầy(1).
Nàng dệt đã sắp xong tấm khố để tặng chàng. Bên cạnh lại còn bày cả tấm
chăn apăn lẫn chiếc áo tù trưởng knuky có hàng nút vàng và hàng dây đỏ rực như
chim mlang đang giang cánh trước ngực, đã dệt xong. Nhìn những trang phục đó,
nàng giục mình phải xe chỉ, luồn sợi nhanh tay hơn nữa, bởi đó chính là một phần
những lễ vật nàng sẽ đem sang nhà để cưới chàng về làm chồng.
Đăm Săn nắm lấy đôi bầu vú gỗ nơi đầu thang, đu thẳng người lên sàn. Bước
nhảy mạnh mẽ của chàng dũng sĩ khiến cả căn nhà sàn dài rung rinh. H'Bia dừng
tay dệt ngó ra cửa, nói dỗi:
– Đăm Săn! Mấy lần con gà lên ổ rồi em không thấy chàng. Hay Đăm Săn để
con diều mổ, con quạ tha em đi rồi mới tới đây chăng?
– H'Bia ơi! Em mắng anh sao như nước sôi trên lửa vậy? Mai này cơm ai người
đó ăn, rượu ai người đó uống. Em có còn được chờ, được mắng anh nữa không đây?
– Sao vậy Đăm Săn?
Bước tới sau lưng người yêu, Đăm Săn cởi hộ nàng sợi dây buộc khung dệt,
vén mớ tóc dài xoã đầy trên sàn, đỡ H' Bia đứng dậy:
– Cột một ché rượu hai người uống đủ đi em. Ta uống với nhau một lần cho
say, quên cả đường về, quên cả những gì đang chờ ở nhà anh kia nữa nhé.
Cảm thấy có điều gì xẩy ra, H'Bia lặng lẽ bới gọn mớ tóc rồi đi tới góc nhà
phía Đông nơi mẹ ủ rượu, chọn lấy một ché ngon. Đăm Săn với tay lên xà nhà,
lấy cây cột gơng chống xuống sàn, chàng phụ H'Bia bưng tới, cột ché rượu cho
chắc. Trong lúc H'Bia lui cui múc nước và soi lại cho thông cái cần hút, Đăm Săn
nhanh chóng đem về một ôm lá chuối khô, xoay tròn ấn vào ché. Họ lặng thinh
làm, không nói gì với nhau, cũng không gọi tôi tớ.
Hai người ngồi bên nhau, tay cùng đặt lên cần rượu, chân đạp lên chân, mắt
nhìn trong mắt. Nếu có hai chiếc cần, thầy cúng, cái rìu và đôi vòng đồng nữa, thì
đã thành lễ cưới của họ rồi. Mặt ché đầy nước sóng sánh như ánh mắt H' Bia đắm
đuối nhìn người yêu. Đam San dịu dàng nâng cần rượu đặt lên môi nàng:
– Uống đi H'Bia. Cho Đăm Săn được tiếp em uống rượu lần sau chót. Rượu
có đắng ta cũng coi là rượu ngọt mà uống cùng nhau.
Đôi mắt H'Bia mở to, lóng lánh như cặp mắt con mang nhỏ Đăm Săn bẫy
được mà không nỡ giết, lại chữa vết thương rồi giữ cho nó quen đùa với hai người
mỗi lần đi thăm rẫy.
(1)
Dân ca Ê Đê..
15
– Có việc gì Đăm Săn? Chị em nhà anh không cho hai đứa mình thương
nhau sao?
– Không phải đâu H'Bia. Chỉ là H'Nhí và H'Bhí cho các anh trai đem lời ông
nội đến nhà. Đã đến lúc theo luật tục nối dây, anh phải về nhà hai nàng đó làm
người đổi trâu bò lấy ching ché, lấy voi. Ngồi trên chiếu hoa làm sang cho nhà họ.
– Còn em sao Đăm Săn?
– Ờ, H'Bia khi nào cũng ở trong đầu, trong mắt, trong ngực Đăm Săn đây nè.
Nhưng bao đời nay, em có thấy ai cãi lời luật tục không? Việc này đã được ông Y
Kla của anh dặn dò từ khi ông còn phải cõng H'Bhí trên lưng, bế Đăm Săn bên vế
trái, ôm H'Nhí một bên vế phải, cách nay mười lăm mùa rẫy rồi đó em.
– H'Bia không chịu đâu Đăm Săn. Mình thương nhau đã hai lần hoa tăng bi
gửi hương cho gió rồi. Nhà em cũng danh giá, giàu sang đâu có kém gì H'Nhí,
H'Bhí? Dòng họ Êban cũng được quyền cưới họ Niê Kdăm chứ.
– Nhưng còn sợi dây nối nòi, làm sao dứt đứt được?
H'Bia tựa đầu lên vai Đăm Săn. Mái tóc dài thơm ngát của nàng xổ tung, quấn
quýt lên cổ, lên vai, lên tấm lưng trần của chàng Đăm Săn. Họ khép mắt im lặng
ngồi bên nhau… H'Bia đi trước trên con đường rừng vắng, hai bên dày đặc những
bông hoa mnga phí(1) – dã quỳ vàng óng giữa đám lá xanh mướt. Đôi gót chân đỏ
như bôi đất non của nàng bước tung tăng trong tiếng đinh năm dìu dặt. Tiếng kèn
như nâng bước chân và tiếng hát H' Bia Lược ngà anh dắt mái tóc xoăn/ Để em
mơ đêm thương ngày nhớ/ Chiếc chiếu em một bên mốc dở/ Bởi không có người
nằm kề bên/ Ơ anh…(2).
Đăm Săn cũng say trong nhịp điệu của câu hát Arei. Người chàng lắc lư, đôi
chân và cả thân mình nhấc lên, nhún xuống, tua khố tung bay. Những con chim
kơtia mỏ đỏ, chim nhông mỏ vàng kéo hàng đàn ríu rít sà xuống theo hai người.
Góc rừng anh công kiêu hãnh xoè hết chiếc đuôi lóng lánh những hình mặt trời
xanh, khoe mẽ với nàng công đang yểu điệu rón rén từng bước. Tiếng suối róc
rách ngân nga đâu đây trong bài ca bất tận của núi rừng và tình yêu. Từng chùm
hoa xoài trắng đung đưa trong nắng… Đăm Săn ngửa mặt gọi thần mặt trời:
– Ông ơi, thả cho cháu cái thang.
Chiếc thang vàng óng kéo lên. Ông Gỗn cười ha hả hỏi Đăm Săn:
– Hai vợ cháu đang đi đón đó, sao chưa về đi. Từ nay đừng làm con mang,
con hoẵng lang thang trong rừng nữa nghe. Phải làm cây cột cái trong nhà chớ.
– Nhưng cháu thương H' Bia Điết Klứt ông à. Nàng cũng ưng cưới cháu nữa.
Chúng cháu muốn ăn cơm một mâm, ngủ chung một chiếu, hút cùng một ống
điếu. Sao bắt cháu nối dây với H'Nhí, H'Bhí? Cháu đâu có ưng hai nàng đó.
(1)
(2)
16
Hoa dã quỳ.
Dân ca Ê Đê.
– Sợi dây ràng buộc dòng họ Niê với Mlô đã có từ ngàn xưa ông bà rồi. Bà
H'Klu chết, họ Mlô phải đem H'Nhí cho ông Y Kla. Bây giờ đến lượt cháu phải
thay ông nội làm chồng H'Nhí, H'Bhí. Niê với Mlô kết đôi, của cải mãi mãi sinh sôi,
buôn làng đời đời no ấm. Đăm Săn ưng làm tù trưởng hay làm tôi tớ giữ bò, giữ
ngựa cho H'Nhí?
– Có đúng cháu lấy hai nàng đó sẽ thành tù trưởng hùng mạnh, giàu có nhất
vùng không?
– Ông Gỗn sao nói sai lời với cháu?
Hai người mở bừng mắt. Họ vẫn ngồi bên nhau mà thiếp đi, mỗi người một
giấc mơ. Chiếc cần rượu bị bỏ quên không ai uống, chảy tong tong xuống sàn,
loang ướt cả vạt gỗ.
Đăm Săn quấn mái tóc thơm của H'Bia quanh cổ như tấm khăn. Hai tay chàng
nâng khuôn mặt người yêu. H'Bia nhắm mắt, dòng lệ trong veo lăn trên đôi má mịn
màng. Đăm Săn ghé môi nhấp cạn giọt lệ của người thương. Mắt chàng không
rời khuôn mặt nàng, cố khắc ghi những nét yêu thương mai này không còn được
ngó thấy… Này hàng mi dài, H'Bia ưng ghé sát má chàng rồi chơm chớp, thích thú
thấy chàng bị nhột. Cặp môi xinh, hàng răng trắng đều như bắp nếp, không còn
được gửi cho chàng những nụ cười hoa nở nữa. Khắp bao bến nước, không có cô
gái nào có suối tóc dài thơm ngát như H'Bia. Hương tóc ngọt ngào này chàng sẽ
không bao giờ được úp mặt vào hít thở. Không còn nữa lời đinh năm buổi sáng,
câu hát với đàn goong những đêm trăng xanh. Im lặng úp mặt trong tóc, họ ôm
riết lấy nhau, bện trong nhau như ...
 





