BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GỐC VĂN HỌC - KỸ NĂNG VIẾT VĂN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    LỜI CHÚC HÔM NAY DÀNH CHO BẠN ĐỌC

    GÓC ĐỊNH HƯỚNG NGHÈ NGHIỆP

    GỐC ÔN THI TNTHPT QUỐC GIA

    Ảnh ngẫu nhiên

    Thu_ngo.jpg Z4110778052869_f76c17e6628bada0e895b61b4244921f.jpg Z4110809642998_383141313c52deb93705802f745ff21b.jpg Z4107879031201_fbb3250a007c4540c4cb0bbdd9ef0e53.jpg Z4107820361383_c3cfcfef466d8186d88c2744116de4c3.jpg Z4107820021809_9bbd96e43bc8d9d5f5702eff9c0ad31a.jpg ABC.jpg Bmt.flv Bmt.jpg Z3743981086860_58facefc3041c765050916e1417cfb63.jpg

    GỐC LịCH SỬ

    VIDEO BOOK - KỸ NĂNG SỐNG

    Giới thiệu sách tháng 12 - “Mưa đỏ”

    Ngày sách và văn hoá đọc THPT Buôn Ma Thuột tháng 4/2024

    Công Khai, Minh Bạch Và Trách Nhiệm Giải Trình Của Các Cơ Quan

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
    Ngày gửi: 15h:20' 04-05-2024
    Dung lượng: 3.8 MB
    Số lượt tải: 21
    Số lượt thích: 0 người
    Chịu trách nhiệm xuất bản
    GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
    PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN
    Chịu trách nhiệm nội dung
    ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP - XUẤT BẢN
    TS. VÕ VĂN BÉ

    Biên tập nội dung:

    Trình bày bìa:
    Chế bản vi tính:
    Đọc sách mẫu:

    VĂN THỊ THANH HƯƠNG
    NGUYỄN THỊ HẢI BÌNH
    NGUYỄN THỊ THẢO
    TRẦN KHÁNH LY
    NGUYỄN VIỆT HÀ
    PHẠM THÚY LIỄU
    HOÀNG MINH TÁM
    TRẦN KHÁNH LY
    BÙI BỘI THU

    __________________________________________

    Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 2650-2022/CXBIPH/8-106/CTQG.
    Số quyết định xuất bản: 1538-QĐ/NXBCTQG, ngày 09/8/2022.
    Nộp lưu chiểu: tháng 8 năm 2022.
    Mã ISBN: 978-604-57-7936-1.

    ĐỒNG CHỦ BIÊN
    GS.TS. PHAN TRUNG LÝ

    Nguyên Chủ nhiệm Ủy ban pháp
    luật của Quốc hội

    ThS.NCS. NGUYỄN TRUNG THÀNH

    Phó Viện trưởng Viện Khoa học
    Môi trường và Xã hội

    THAM GIA BIÊN SOẠN
    PGS.TS. NGUYỄN ĐỨC BÁCH Viện trưởng Viện Khoa học Môi trường
    và Xã hội
    TS. NGUYỄN TRÍ TUỆ

    Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

    TS. NGUYỄN VĂN THANH

    Phó Tổng Thanh tra Chính phủ

    TS. TRẦN CÔNG PHÀN

    Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
    tối cao

    TS. PHAN THANH HÀ

    Viện Nhà nước và Pháp luật - Viện Hàn
    lâm Khoa học xã hội Việt Nam

    ThS. HOÀNG THỊ HƯỜNG

    Viện Khoa học Môi trường và Xã hội

    ThS. NGUYỄN ĐÌNH PHÚC

    Viện Khoa học Môi trường và Xã hội

    Nhà báo BÙI THỊ HƠN

    Viện Khoa học Môi trường và Xã hội

    Nhà báo LÊ THỊ NHUNG

    Viện Khoa học Môi trường và Xã hội

    5

    Cuốn sách này được biên soạn bởi Viện Khoa
    học Môi trường và Xã hội (ESSI) thuộc Liên hiệp các
    Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), trong
    khuôn khổ Đề tài “Công khai, minh bạch và trách
    nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt động của
    các cơ quan hành chính nhà nước đáp ứng yêu
    cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
    nghĩa” (Mã số KX.01.41/16-20) thuộc Chương trình:
    Nghiên cứu những vấn đề trọng yếu về khoa học
    xã hội và nhân văn phục vụ phát triển kinh tế - xã
    hội, Mã số KX.01/16-20. Viện Khoa học Môi trường
    và Xã hội chịu trách nhiệm về nội dung và giữ bản
    quyền cuốn sách này.

    7

    MỤC LỤC
    Trang
    Lời Nhà xuất bản 13
    Lời giới thiệu 15
    Lời nói đầu 19
    Danh mục hình

    22

    Danh mục bảng

    24
    Chương I

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG KHAI,
    MINH BẠCH VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH

    25

    I. Khái niệm về công khai, minh bạch và trách
    nhiệm giải trình

    25

    1. Công khai, minh bạch

    25

    2. Trách nhiệm giải trình

    45

    3. Các cơ quan hành chính ở Việt Nam

    69

    4. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

    85

    5. Mối quan hệ, vị trí, vai trò của công khai, minh bạch
    và trách nhiệm giải trình

    119

    II. Quy định về công khai, minh bạch và trách
    nhiệm giải trình trong pháp luật quốc tế và
    pháp luật một số nước

    132

    1. Quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm
    giải trình trong pháp luật quốc tế

    132

    2. Quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm
    giải trình trong pháp luật một số nước trên thế giới

    139

    8

    CÔNG KHAI, MINH BẠCH VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH...

    III. Các yếu tố tác động đến hoạt động công khai,
    minh bạch và trách nhiệm giải trình

    170

    1. Tác động của các yếu tố chủ quan

    170

    2. Tác động của các yếu tố khách quan

    187

    Chương II
    THỰC TRẠNG CÔNG KHAI, MINH BẠCH
    VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH TRONG TỔ CHỨC
    VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH
    NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

    213

    I. Chủ trương của Đảng về công khai, minh bạch
    và trách nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt
    động của cơ quan hành chính nhà nước

    213

    II. Pháp luật và thực hiện pháp luật về công khai,
    minh bạch trong tổ chức và hoạt động của các
    cơ quan hành chính nhà nước

    220

    1. Pháp luật và thực hiện pháp luật về công khai,
    minh bạch trong xây dựng và hoàn thiện chính
    sách pháp luật

    220

    2. Pháp luật và thực hiện pháp luật về công khai,
    minh bạch trong công tác tổ chức bộ máy, biên chế,
    thi tuyển, tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

    237

    3. Pháp luật và thực hiện pháp luật về công khai,
    minh bạch trong thực hiện quyền hành chính của
    hoạt động công vụ

    262

    4. Quy định của pháp luật về công khai, minh bạch
    đối với tài chính công

    277

    5. Pháp luật và thực hiện pháp luật về công khai,
    minh bạch trong công tác thanh tra, kiểm tra,
    giám sát và giải quyết khiếu nại, tố cáo ở các cấp

    291

    MỤC LỤC

    9

    6. Pháp luật và thực hiện pháp luật về công khai,
    minh bạch trong lĩnh vực đất đai

    308

    7. Pháp luật và thực hiện pháp luật về công khai,
    minh bạch trong lĩnh vực môi trường

    320

    8. Pháp luật và thực hiện pháp luật về công khai,
    minh bạch trong lĩnh vực quy hoạch

    331

    9. Pháp luật và thực hiện pháp luật về công khai,
    minh bạch trong lĩnh vực đầu tư xây dựng

    339

    10. Pháp luật và thực hiện pháp luật về công khai,
    minh bạch trong lĩnh vực hành chính tư pháp

    348

    III. Pháp luật và thực hiện pháp luật về trách
    nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt động
    của các cơ quan hành chính nhà nước

    352

    1. Pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm
    giải trình của Thủ tướng Chính phủ, các thành
    viên chính phủ, cán bộ, công chức thuộc Chính phủ

    352

    2. Pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm
    giải trình của người đứng đầu và cán bộ, công
    chức của cơ quan bộ, ngành

    369

    3. Pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm
    giải trình của Ủy ban nhân dân, đội ngũ cán bộ,
    công chức của Ủy ban nhân dân các cấp

    383

    4. Pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm
    giải trình trong đầu tư công

    392

    5. Pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm
    giải trình trong lĩnh vực đất đai

    404

    6. Pháp luật và thực hiên pháp luật về trách nhiệm
    giải trình trong lĩnh vực môi trường

    415

    7. Pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm
    giải trình trong lĩnh vực quy hoạch

    425

    10

    CÔNG KHAI, MINH BẠCH VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH...

    8. Pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm
    giải trình trong lĩnh vực đầu tư xây dựng

    432

    9. Pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm
    giải trình trong lĩnh vực hành chính tư pháp

    443

    IV. Sự tham gia của các tổ chức xã hội, báo chí,
    doanh nghiệp và người dân vào việc thúc đẩy
    thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm
    giải trình

    452

    1. Vị trí, vai trò của các tổ chức xã hội, báo chí, doanh
    nghiệp và người dân

    452

    2. Pháp luật quy định về hoạt động của các tổ chức
    xã hội, báo chí, doanh nghiệp, người dân

    460

    3. Thực trạng tham gia của các tổ chức xã hội, báo
    chí, doanh nghiệp và người dân trong tổ chức và
    hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước
    4. Nhận diện những vấn đề đặt ra

    466
    472

    Chương III
    QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM CÔNG KHAI,
    MINH BẠCH VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH

    483

    I. Quan điểm chỉ đạo về việc thực hiện công khai,
    minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hệ
    thống cơ quan hành chính nhà nước đáp ứng
    yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
    chủ nghĩa ở Việt Nam

    483

    II. Giải pháp bảo đảm công khai, minh bạch và
    trách nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt
    động của các cơ quan hành chính nhà nước

    487

    1. Giải pháp chung

    488

    2. Giải pháp cụ thể

    490

    MỤC LỤC

    11

    3. Giải pháp bảo đảm công khai, minh bạch và trách
    nhiệm giải trình trong một số lĩnh vực

    512

    III. Xây dựng bộ chỉ số đánh giá thực hiện công
    khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình

    529

    1. Những vấn đề chung về chỉ số

    529

    2. Chỉ số xác định mức độ công khai, minh bạch và
    trách nhiệm giải trình
    IV. Kiến nghị

    533
    549

    1. Kiến nghị với Bộ Chính trị, Ban Bí thư

    549

    2. Kiến nghị với Quốc hội

    550

    3. Kiến nghị với Chính phủ

    556

    4. Kiến nghị với bộ, ngành, địa phương

    558

    5. Kiến nghị về việc xây dựng đạo luật về công khai,
    minh bạch và trách nhiệm giải trình
    KẾT LUẬN

    561
    575

    TÀI LIỆU THAM KHẢO 579

    13

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN

    H

    iện nay, trong bối cảnh đất nước ta đang quyết liệt thực hiện
    việc xây dựng, củng cố và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp

    quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vấn đề công khai, minh bạch và
    trách nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành
    chính nhà nước đã và đang được Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng.
    Tiêu chí công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình là tiêu chí
    quan trọng của các tổ chức quốc tế trong việc đánh giá Chính phủ mở,
    chỉ số pháp quyền cũng như môi trường kinh doanh - đầu tư. Theo đó,
    các nội dung của công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong
    tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước đã được đề
    cập trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật như Luật Phòng, chống
    tham nhũng, Luật Tiếp cận thông tin... Mặc dù đã có hành lang pháp
    lý khá đầy đủ, tuy nhiên, việc tiếp tục hoàn thiện thực thi pháp luật về
    công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt
    động của cơ quan hành chính nhà nước vẫn đang là một nhiệm vụ đặt
    ra ở Việt Nam hiện nay.
    Nhằm cung cấp tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, tìm hiểu
    và tìm ra các giải pháp nhằm cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn
    cho các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong xây dựng và thực
    hiện pháp luật, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, góp phần phòng, chống
    tham nhũng, bảo đảm hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính
    nhà nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách
    Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan
    hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay (Sách chuyên khảo)

    14

    CÔNG KHAI, MINH BẠCH VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH...

    do GS.TS. Phan Trung Lý và ThS. Nguyễn Trung Thành (Chủ biên).
    Nội dung cuốn sách bao gồm 4 chương, đề cập những vấn đề lý luận;
    thực trạng thực thi pháp luật; đường lối, chủ trương, chính sách, pháp
    luật của Nhà nước về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình
    trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước Việt
    Nam hiện nay, từ đó, đưa ra những quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu
    quả hoạt động công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
    Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

    Tháng 5 năm 2021
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

    15

    LỜI GIỚI THIỆU

    T

    ăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong
    tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước là

    công cụ quan trọng và hữu hiệu để bảo đảm hiệu lực quản lý nhà
    nước; góp phần hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương
    thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
    nước. Trong bối cảnh thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp
    quyền xã hội chủ nghĩa và quá trình hội nhập quốc tế, việc bảo đảm
    công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của hệ thống các cơ
    quan hành chính nhà nước ở Việt Nam luôn được coi là một yêu cầu
    không thể thiếu nhằm bảo đảm nguyên tắc dân chủ trong hoạt động
    của Nhà nước.
    Một trong những chức năng chủ yếu của hệ thống các cơ quan
    hành chính nhà nước là cung cấp dịch vụ hành chính (dịch vụ công)
    cho công dân, tổ chức, doanh nghiệp. Hoạt động này mang tính chất
    phục vụ Nhân dân nhiều hơn, hiệu quả của hoạt động hành chính
    xét dưới góc độ cung cấp dịch vụ công được đánh giá bằng mức độ
    hài lòng của người dân và chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ. Nói
    cách khác, khi chất lượng và hiệu quả hoạt động của bộ máy hành
    chính được nâng cao thì mức độ hài lòng của Nhân dân cũng tăng
    lên, điều đó phụ thuộc vào mức độ công khai, minh bạch trong hoạt
    động hành chính. Ngược lại, khi sự công khai, minh bạch không
    được đề cao, quá trình xây dựng thể chế sẽ có chỗ cho hiện tượng
    “mua, bán chính sách”, thủ tục hành chính không rõ ràng là cơ hội

    16

    CÔNG KHAI, MINH BẠCH VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH...

    để cán bộ công quyền nhũng nhiễu, hạch sách người dân, là môi
    trường để những hành vi tham nhũng, tiêu cực nảy sinh. Việc được
    tiếp cận với các thông tin cho phép công dân chất vấn, phản biện và
    ngăn cản các hành động của chính quyền mà họ không đồng tình,
    cũng như cho phép họ tìm cách “uốn nắn” các hành vi sai trái của
    các quan chức. Công khai gắn liền với minh bạch. Chính phủ công
    khai, minh bạch phải có trách nhiệm tạo điều kiện để người dân có
    thể tiếp cận được với các văn bản và thông tin của chính quyền.
    Ngoài ra, những thách thức mà bộ máy hành chính nhà nước
    đang phải đối mặt chính là sự tác động không nhỏ từ nền kinh tế
    toàn cầu và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng
    công nghiệp 4.0) đang hình thành và tác động mạnh mẽ tới tất cả
    các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đối với nền hành chính nhà nước,
    cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách
    thức đòi hỏi nhà quản lý phải nắm bắt kịp thời để có những định
    hướng và giải pháp phù hợp, hoàn thiện nền hành chính nhà nước,
    đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước. Chất lượng của
    chính quyền, tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình
    của các cơ quan hành chính nhà nước, của hệ thống chính trị ngày
    càng trở nên quan trọng để xây dựng niềm tin của công chúng. Việc
    xây dựng các thể chế chính trị cởi mở hơn và bảo đảm tính công
    khai, minh bạch, trách nhiệm nhiệm giải trình sẽ ngày càng trở
    thành yêu cầu quan trọng trước bối cảnh hội nhập và phát triển
    trong khi các tổ chức quốc tế đánh giá “quản trị công xếp hạng Việt
    Nam ở mức độ khá thấp trong góc nhìn về trách nhiệm giải trình
    của nền hành chính”.
    Trong bối cảnh đó, Văn phòng các Chương trình trọng điểm
    cấp nhà nước đã tổ chức tuyển chọn đơn vị chủ trì thực hiện đề tài
    “Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong tổ chức và

    17

    LỜI GIỚI THIỆU

    hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu
    xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” và Viện Khoa học
    Môi trường và Xã hội đã được giao làm đơn vị chủ trì, GS.TS. Phan
    Trung Lý là chủ nhiệm đề tài. Kết quả nghiên cứu của đề tài không
    chỉ làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn, mà còn góp phần thúc
    đẩy quá trình công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong
    tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, đáp ứng
    yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
    Trên cơ sở các dữ liệu, thông tin, tài liệu, báo cáo tổng hợp của
    đề tài, Viện Khoa học Môi trường và Xã hội cùng nhóm tác giả đã
    thực hiện biên soạn cuốn sách chuyên khảo “Công khai, minh bạch
    và trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước ở
    Việt Nam hiện nay”. Đây là cuốn sách chuyên khảo trên cả phương
    diện lý luận và thực tiễn về công khai, minh bạch và trách nhiệm
    giải trình trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính
    nhà nước ở Việt Nam. Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng cuốn
    sách này vẫn không tránh khỏi những hạn chế thiếu sót, nhóm tác
    giả mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để tiếp tục hoàn
    thiện cuốn sách trong lần xuất bản sau.
    Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2020

    PGS.TS. Nguyễn Đức Bách
    VIỆN TRƯỞNG
    VIỆN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI

    19

    LỜI NÓI ĐẦU

    C

    ông khai (open, public), minh bạch (transparency) và trách
    nhiệm giải trình (accountability) là những khái niệm, thuật

    ngữ phổ biến từ lâu ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy cách thức
    thực hiện khác nhau nhưng công khai, minh bạch và trách nhiệm
    giải trình đã xuất hiện rất sớm, ngay từ thời kỳ La Mã. Nhà nước cổ
    đại đã sử dụng các công cụ này để nắm bắt tường tận những gì diễn
    ra trong xã hội, kiểm soát xã hội để phục vụ cho việc cai trị của mình.
    Ngày nay, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình là
    yêu cầu cơ bản để quản trị tốt. Đây cũng là xu thế phát triển bền
    vững tất yếu của bất cứ quốc gia nào trong thế giới hiện đại. Công
    khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình được quy định ngày càng
    cụ thể và đầy đủ trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Ở một
    số quốc gia đã có những đạo luật riêng để điều chỉnh các vấn đề về
    công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
    Ở Việt Nam, ngay từ khi ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã quan
    tâm đến công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Cùng với
    sự khẳng định quyết tâm “Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng
    suốt của Nhân dân” trong Hiến pháp năm 1946, Đảng và Nhà nước
    ta đã coi công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình như một
    yêu cầu không thể thiếu trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước
    từ trung ương đến cơ sở.
    Cùng với việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
    xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, yêu cầu

    20

    CÔNG KHAI, MINH BẠCH VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH...

    thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình càng có ý
    nghĩa đặc biệt. Các nội dung của công khai, minh bạch đã được điều
    chỉnh, càng ngày càng nhiều trong các văn bản pháp luật. Khái niệm
    công khai, minh bạch được chính thức quy định trong Luật Phòng,
    chống tham nhũng năm 2005 và được hoàn thiện trong Luật Phòng,
    chống tham nhũng năm 2018. Theo đó “công khai, minh bạch về tổ
    chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị là việc công bố cung
    cấp thông tin, giải trình về tổ chức bộ máy, việc thực hiện nhiệm vụ,
    quyền hạn và trách nhiệm trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
    của cơ quan, tổ chức, đơn vị” (khoản 4 Điều 3)1. Để cụ thể hóa Hiến
    pháp năm 2013, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình
    cũng được quy định trong Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, luật tổ
    chức của các cơ quan nhà nước và các văn bản pháp luật khác.
    Có thể thấy rằng, công khai và minh bạch là hai thuật ngữ gắn
    liền với nhau, tưởng giống nhau nhưng thực chất là hai thuật ngữ
    khác nhau. Công khai được sử dụng như một hoạt động của chủ thể,
    đó là hình thức công bố thông tin. Minh bạch là thuật ngữ chỉ trạng
    thái biểu hiện rõ ràng ra bên ngoài. Công khai là phương thức thực
    hiện để hướng tới mục đích là sự minh bạch, còn minh bạch không
    đồng nghĩa với công khai, nhưng nếu muốn đạt được sự minh bạch
    đòi hỏi cần công khai. Tuy nhiên, việc thực hiện công khai, minh
    bạch trên thực tế còn nhiều hạn chế, còn mang nặng tính hình thức.
    Cuốn sách này là sản phẩm của quá trình nghiên cứu nhằm
    mục đích góp tiếng nói chung, tìm ra các giải pháp hữu hiệu để tăng
    cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong điều
    kiện mới. Đây là một trong những sản phẩm của Đề tài nghiên cứu
    1. Luật này được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật Doanh nghiệp
    năm 2020 (sau đây viết tắt là Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018).

    21

    LỜI NÓI ĐẦU

    khoa học cấp Nhà nước ”Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải
    trình trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà
    nước đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
    nghĩa”, Mã số KX.01.41/16-20, thuộc Chương trình khoa học và
    công nghệ “Nghiên cứu những vấn đề trọng yếu về khoa học xã hội
    nhân văn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”, Mã số KX.01/16-20.
    Nội dung chủ yếu của cuốn sách tập trung giải quyết những
    vấn đề lý luận và thực tiễn về công khai, minh bạch; phân tích,
    đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về công khai, minh bạch
    ở Việt Nam; đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ
    chức, cũng như điều kiện bảo đảm thực hiện công khai, minh bạch
    và trách nhiệm giải trình ở Việt Nam. Cuốn sách này được biên soạn
    ở thời điểm bản lề của thập niên mới với những sự kiện quan trọng
    quyết định.
    Nhóm tác giả mong rằng, với những ý tưởng sẵn có, với những
    vấn đề được đặt ra, với những giải pháp và kiến nghị được đề xuất,
    cuốn sách này sẽ góp phần tích cực vào việc khẳng định sự cần thiết
    thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình như một
    yêu cầu không thể thiếu bảo đảm cho sự phát triển bền vững của
    đất nước.
    Trân trọng cảm ơn.
    T/M BAN BIÊN SOẠN
    Chủ biên
    GS.TS. Phan Trung Lý

    22

    DANH MỤC HÌNH
    Hình 2.1: Thực trạng công khai, minh bạch các ý tưởng,
    đề xuất hoạch định chính sách

    230

    Hình 2.2: Công khai dự thảo và báo cáo tổng hợp, đánh
    giá trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật ở các cấp

    231

    Hình 2.3: Công khai, minh bạch văn bản quy phạm
    pháp luật sau khi ban hành

    234

    Hình 2.4: Thực trạng công khai, minh bạch trong tổ
    chức bộ máy cơ quan quản lý nhà nước

    249

    Hình 2.5: Thực trạng công khai, minh bạch trong công
    tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức

    254

    Hình 2.6: Thực trạng công khai, minh bạch trong hoạt
    động công vụ của cơ quan hành chính

    270

    Hình 2.7: Thực trạng công khai, minh bạch trong quản
    lý tài chính công

    285

    Hình 2.8: Công khai ngân sách của Việt Nam so với khu
    vực (OBI 2017)

    287

    Hình 2.9: Thay đổi về mức độ công khai ngân sách của
    Việt Nam (OBI 2006-2017)

    288

    Hình 2.10: Đánh giá của cán bộ, công chức, viên chức về
    mức độ công khai, minh bạch trong công tác thanh tra, kiểm
    tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan quản lý nhà nước

    304

    Hình 2.11: Đánh giá của người dân về mức độ công khai,
    minh bạch báo cáo thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại
    tố cáo của cơ quan quản lý nhà nước

    305

    Hình 2.12: Đánh giá của người dân về mức độ công
    khai, minh bạch các thông tin đất đai

    316

    DANH MỤC HÌNH

    23

    Hình 2.13: Đánh giá của người dân về mức độ công
    khai, minh bạch trong lĩnh vực quy hoạch

    337

    Hình 2.14: Mức độ công khai, minh bạch các dự án đầu
    tư xây dựng

    345

    Hình 2.15: Khảo sát cán bộ, công chức, viên chức về
    công khai, minh bạch trong lĩnh vực hành chính tư pháp

    350

    Hình 2.16: Khảo sát của người dân về công khai, minh
    bạch trong lĩnh vực hành chính tư pháp

    351

    Hình 2.17: Hình thức thực hiện trách nhiệm giải trình
    trong hoạt động của các cơ quan bộ, ngành

    380

    Hình 2.18: Tỷ lệ người dân yêu cầu cơ quan quản lý nhà
    nước thực hiện giải trình trong lĩnh vực đất đai

    410

    Hình 2.19: Hình thức thực hiện trách nhiệm giải trình
    trong lĩnh vực đất đai

    412

    Hình 2.20: Mức độ hài lòng của người dân đối với việc
    công chức trả lời giải thích thắc mắc trong các lĩnh vực

    413

    Hình 2.21: Hình thức thực hiện trách nhiệm giải trình
    của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường

    421

    Hình 2.22: Hình thức thực hiện trách nhiệm giải trình
    của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng

    441

    Hình 2.23: Mục tiêu của Cổng thông tin quốc gia về
    giám sát và đánh giá đầu tư

    442

    Hình 2.24: Khảo sát người dân về yêu cầu thực hiện
    trách nhiệm giải trình trong lĩnh vực hành chính tư pháp
    Hình 3.1. Đề xuất quy trình lấy ý kiến cộng đồng

    448
    525

    24

    DANH MỤC BẢNG
    Bảng 2.1: Đánh giá của người dân về các nội dung chính
    quyền địa phương thực hiện công khai, minh bạch

    249

    Bảng 2.2: Đánh giá của cán bộ, công chức về công khai,
    munh bạch trong hoạt động công chức, công vụ

    251

    Bảng 2.3: Yêu cầu của người dân đối với chính quyền
    địa phương thực hiện trách nhiệm giải trình trong lĩnh vực
    đầu tư công

    399

    Bảng 2.4: Cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trách
    nhiệm giải trình về hoạt động công vụ trong lĩnh vực đất đai

    411

    Bảng 2.5: Yêu cầu của người dân với chính quyền địa
    phương thực hiện trách nhiệm giải trình trong lĩnh vực
    môi trường

    420

    Bảng 2.6: Kết quả khảo sát về yêu cầu của người dân với
    chính quyền địa phương giải trình trong lĩnh vực quy hoạch

    429

    Bảng 2.7: Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công
    cấp tỉnh ở Việt Nam

    431

    Bảng 2.8: Kết quả khảo sát yêu cầu của người dân với
    cơ quan hành chính nhà nước giải trình trong lĩnh vực đầu
    tư xây dựng

    438

    Bảng 2.9: Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công
    cấp tỉnh về đầu tư xây dựng

    440

    Bảng 2.10: Đánh giá của cán bộ, công chức về sự tác
    động của tổ chức xã hội đến việc thúc đẩy thực hiện công
    khai, minh bạch

    468

    Bảng 2.11: Đánh giá của người dân về sự tác động của
    tổ chức xã hội đến thúc đẩy công khai, minh bạch

    468

    25

    Chương I

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG KHAI,
    MINH BẠCH VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH

    I. KHÁI NIỆM VỀ CÔNG KHAI, MINH BẠCH VÀ TRÁCH NHIỆM
    GIẢI TRÌNH

    1. Công khai, minh bạch
    1.1. Khái niệm công khai, minh bạch
    1.1.1. Khái niệm công khai (openness)
    Theo Từ điển tiếng Việt thì công khai “là việc không giữ kín,
    mà để cho mọi người đều có thể biết”1. Xem xét về thuật ngữ khái
    niệm “Hán - Việt” này, thì “công” với nghĩa là “chung”, “công cộng”
    (của xã hội như: “sự việc chung”, “vấn đề chung”, “công việc chung”,
    “hoạt động chung”... “công” trong khái niệm “công bố” cũng có nghĩa
    là “chung” - “công cộng”). “Khai” với nghĩa là “mở ra”, “khai mở”...
    (như “mở ra” cho chủ thể nào đó được biết một vấn đề gì đó, một sự
    việc nào đó, một hoạt động nào đó, một kết quả nào đó, v.v..).
    Công khai (openness) là khái niệm phổ biến từ rất sớm ở các
    quốc gia trên thế giới:
    Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) thì công
    khai là việc nhà nước cũng cấp thông tin chính sách đến người dân
    và doanh nghiệp trên phương diện truyền đạt và trình bày, đồng
    1. Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê Chủ biên): Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà
    Nẵng, Trung tâm Từ điển học, 2003, tr.208

    26

    CÔNG KHAI, MINH BẠCH VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH...

    thời cơ quan nhà nước tiếp nhận những ý kiến đóng góp của người
    dân và doanh nghiệp vào xây dựng và thực hiện chính sách1.
    Bannister và Connolly cho rằng sự công khai liên quan đến
    các hoạt động giám sát của người dân vào công việc của Chính phủ
    trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách. Chính phủ cần
    cung cấp thông tin, trình bày và biện minh cho các quyết định về
    những chính sách của mình2.
    Còn theo các tác giả Anamarija Musa, Domagoj Bebíc, Petra
    Đurman thì công khai liên quan đến việc cung cấp thông tin, giải
    trình thông tin về xây dựng, thực hiện chính sách trong quá trình
    quản lý của nhà nước3.
    Những quy định về công khai được quy định cụ thể trong pháp
    luật của một số quốc gia như: công khai là hoạt động của cơ quan
    chính quyền công bố các thông tin, hoặc chuyển các bản sao tài liệu
    tới người dân;... Việc cung cấp thông tin cho người dân qua phương
    tiện thông tin (mạng truyền thông);... Về nguyên tắc công khai thông
    tin: các cơ quan chính quyền phải cung cấp cho công chúng các thông
    tin thuộc quyền sở hữu và quản lý của cơ quan chính quyền4. Việc
    công khai hóa các thông tin của cơ quan hành chính là điều kiện thúc
    đẩy một nền hành chính công bằng và dân chủ, bảo đảm quyền được
    bàn, được biết của Nhân dân. Công khai thể hiện quyền được yêu cầu
    1. OECD: Public Sector Transparency and Openess, Making it Happen
    Paris: OECD, 2002.
    2. Bannister, F., R. Connolly: The Trouble with Transparency: A Critical
    View of Openness in E- Government. Paper presented at EGPA Annual
    Confer-ence, Toulouse, France, 7-10 September, 2010.
    3. Anamarija Musa, Domagoj Bebić, Petra Đurman: Transparency and
    Openness in Local Governance: A Case of Croatian Cities, Tạp chí về Lý thuyết
    và thực hành hành chính công, 2015.
    4. Luật Công bố thông tin của cơ quan công quyền Hàn Quốc, http://www.
    law.go.kr/lsInfoP.dolsiSeq=195063&efYd=20170726#J1:0.

    Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG KHAI, MINH BẠCH...

    27

    cung cấp các văn bản hành chính của người dân, nghĩa vụ cung cấp
    văn bản hành chính của cơ quan nhà nước1. Mọi công dân và tổ chức
    có thể có được thông tin của chính quyền phù hợp với pháp luật, từ
    đó nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của chính quyền, thúc
    đẩy sự quản lý bằng pháp luật và thực thi triệt để chức năng dịch vụ
    thông tin của chính quyền vì lợi ích và đời sống của đại bộ phận nhân
    dân và nhằm tác động đến tình hình kinh tế, xã hội. Theo đó, cơ quan
    nhà nước phải thiết lập những cơ chế toàn diện trong việc công khai
    thông tin của chính quyền để công bố thông tin của chính quyền một
    cách kịp thời và chính xác. Bên cạnh những thông tin được các cơ
    quan nhà nước công bố công khai, cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân
    có thể gửi đơn yêu cầu cung cấp thông tin2.
    Ở Việt Nam, trong quản trị nhà nước trước đây, công khai được
    hiểu một cách đơn giản là công bố thông tin của Nhà nước. Đây cũng
    là cách hiểu được thể hiện trong định nghĩa pháp lý đầu tiên về
    sự công khai ở Việt Nam, được nêu trong Luật Phòng, chống tham
    nhũng năm 2005, theo đó: “Công khai là việc cơ quan, tổ chức, đơn
    vị công bố, cung cấp thông tin chính thức về văn bản, hoạt động hoặc
    về nội dung nhất định”3.
    1. Luật Công bố thông tin do cơ quan hành chính Nhật Bản năm 1999,
    sửa đổi lần cuối năm 2008.
    2. Nghị định số 492 ngày 17/01/2007 của Hội đồng nhà nước Cộng hòa
    Nhân dân Trung Hoa về các quy định của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về
    việc tiết lộ thông tin của Chính phủ, sửa đổi lần cuối năm 2019, http://www.
    gov.cn/xxgk/pub/govpublic/tiaoli.html.
    3. Theo giải thích từ ngữ được quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Phòng,
    chống tham nhũng năm 2005. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cũng
    có cách hiểu tương tự: “Công khai, minh bạch về tổ chức và hoạt động của cơ
    quan, tổ chức, đơn vị là việc công bố, cung cấp thông tin, giải trình về tổ chức bộ
    máy, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm trong khi thực hiện
    nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, đơn vị (khoản 4, Điều 3 Luật Phòng,
    chống tham nhũng năm 2018).

    28

    CÔNG KHAI, MINH BẠCH VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH...

    Báo cáo kết quả điều tra tham nhũng ở Việt Nam do Ban Nội
    chính Trung ương chủ trì thực hiện, công bố năm 2005 đã nhận
    định, việc xây dựng một xã hội công khai, minh bạch nhằm phòng,
    chống tham nhũng là một giải pháp hết sức quan trọng. Thể chế hóa
    đường lối của Đảng, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã
    xác định công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức,
    đơn vị là biện pháp quan trọng đầu tiên để ngăn ngừa tham nhũng.
    Trong thông cáo báo chí tại Hội nghị Đối thoại về phòng, chống
    tham nhũng lần thứ 3, được tổ chức vào tháng 6/2008 do Văn phòng
    Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng - Thanh tra
    Chính phủ - Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam chủ trì đã kết
    luận “Công khai và minh bạch là những chìa khóa then chốt nhằm
    bảo đảm đấu tranh chống tham nhũng thành công”.
    Trong hoạt động của bộ máy nhà nước, “công khai” nghĩa là mọi
    hoạt động của nhà nước phải được công bố hoặc phổ biến, truyền tải
    trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm cho mọi người dân có
    thể tiếp cận được các quyết định của Nhà nước một cách dễ dàng.
    Trong khoa học pháp lý Việt Nam, công khai cũng được một số tác
    giả hiểu theo cách tiếp cận tương đối hẹp nêu trên, ví dụ: “Trong
    hoạt động của bộ máy nhà nước, công khai nghĩa là mọi hoạt động
    của nhà nước phải được công bố hoặc phổ biến, truyền tải trên các
    phương tiện thông tin đại chúng, làm cho mọi người dân có thể tiếp
    cận được các quyết định của Nhà nước một cách dễ dàng”1.
    1. Nguyễn Văn Tiếp: Hoàn thiện thể chế về công khai, minh bạch trong
    quản lý hành chính nhà nước, số 05/2013, Tạp chí Tổ chức Nhà nước. Dẫn theo
    Đặng Minh Tuấn: Lý luận cơ bản về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải
    trình trong quản trị nhà nước và phòng, chống tham nhũng, tham luận tại Hội
    thảo quốc tế về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong quản trị
    nhà nước và phòng, chống tham nhũng trên thế giới và ở Việt Nam do Khoa
    Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Viện Khoa học Môi trường và Xã
    hội tổ chức, ngày 03/11/2019.

    C...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT BUÔN MA THUỘT !