BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GỐC VĂN HỌC - KỸ NĂNG VIẾT VĂN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    LỜI CHÚC HÔM NAY DÀNH CHO BẠN ĐỌC

    GÓC ĐỊNH HƯỚNG NGHÈ NGHIỆP

    GỐC ÔN THI TNTHPT QUỐC GIA

    Ảnh ngẫu nhiên

    Thu_ngo.jpg Z4110778052869_f76c17e6628bada0e895b61b4244921f.jpg Z4110809642998_383141313c52deb93705802f745ff21b.jpg Z4107879031201_fbb3250a007c4540c4cb0bbdd9ef0e53.jpg Z4107820361383_c3cfcfef466d8186d88c2744116de4c3.jpg Z4107820021809_9bbd96e43bc8d9d5f5702eff9c0ad31a.jpg ABC.jpg Bmt.flv Bmt.jpg Z3743981086860_58facefc3041c765050916e1417cfb63.jpg

    GỐC LịCH SỬ

    VIDEO BOOK - KỸ NĂNG SỐNG

    Giới thiệu sách tháng 12 - “Mưa đỏ”

    Ngày sách và văn hoá đọc THPT Buôn Ma Thuột tháng 4/2024

    Chuộc Chồng - Mary Higgins Clark

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 09h:44' 22-03-2024
    Dung lượng: 604.2 KB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    Chuộc Chồng
    Mary Higgins Clark
    NXB Công An Nhân Dân (2004)
    Từ khóa: Trinh Thám, Hình Sự, Tiểu Thuyết

    Chuộc Chồng và các truyện ngắn khác lần đầu tiên mang đến cho
    bạn một loạt những câu truyện cực kỳ cuốn hút qua bút pháp của
    tác giả truyện trinh thám tâm lý ăn khách bậc nhất thế giới: Mary
    Higgins Clark.

    CHUỘC CHỒNG
    Tác giả: Mary Higgins Clark
    Dịch giả: Lưu Vân
    Nhà xuất bản: NXB Công an Nhân dân
    Ngày xuất bản: 12-2004
    Số trang: 178
    Giá bìa: 13.000đ
    Thể loại: Trinh thám
    Đánh máy: casau
    Soát lỗi và làm ebook: Heoconmtv
    Ngày hoàn thành: 22-12-2015
    Nếu có điều kiện hãy mua sách để ủng hộ tác giả và nhà xuất bản
    nhé!
     

    Vụ án trên đất Mũi
    Đó là một buổi chiều tháng Tám, họ đã tới ngôi nhà nhỏ cho thuê trong
    làng Dennis ở mũi Cod. Bà Alvirah Meehan vui vẻ gật đầu chào người láng
    giềng, một phụ nữ vóc dáng mảnh mai, trông trẻ như cô gái ở độ tuổi hai
    mươi.
    Bà Alvirah và ông Willy nhìn quanh ngôi nhà thuê, cảm thấy hài lòng
    cái giường trang trí bốn hoa văn dây leo và tấm thảm trải sàn có hoa văn
    móc câu, phòng bếp sáng sủa với cái tủ lạnh còn mùi hải sản tươi, trước
    khi mở những chiếc va-li hiệu Vuitton đắt tiền như những quần áo chất
    trong đó. Willy đi rót hai ly bia lạnh cho mình và vợ rồi cùng ngồi trong
    phòng nhìn ra Vịnh.
    Willy nghe con người mập mạp của mình rất là dễ chịu trên chiếc
    trường kỷ bằng mây đan, và thấy đất trời lúc hoàng hôn ở đây thật thú vị.
    Ông thầm cảm ơn Thượng đế đã tạo nên một cảnh bình yên như vậy. Cách
    đây hai năm, họ may mắn trúng 40 triệu đô-la trong một cuộc xổ số ở New
    York. Và từ đó, Willy và Alvirah như đi trong một vùng hào quang sáng
    sủa. Chuyến đi nghỉ đầu tiên của họ là đến suối nước nóng Cypress Point ở
    California và bà Alvirah suýt bị ám sát. Sau đó, họ lại lên một chuyến tầu
    biển và ngoài bà Alvirah ra thì chẳng ai biết về người đàn ông đang ngồi
    bên cạnh họ chỗ chiếc bàn ăn lớn trên tầu, là một con cá thu đang mắc lưới.
    Với sự tích lũy mọi khôn ngoan ở cái tuổi 59, ông Willy tin rằng nếu
    đến mũi Cod, họ có thể tìm được những giờ phút tĩnh lặng hơn cả. Còn nếu
    để viết bài cho tờ New York Globe về một chuyến đi, có lẽ ông sẽ viết
    được về thời tiết và câu cá.
    Trong khi ông nói, bà Alvirah chỉ yên lặng bên cái bàn xếp, cách người
    bạn đời của bà chừng mấy bước chân. Bà đang tiếc vì đã quên mua mũ.
    Một người ở mỹ viện Sassoon's đã dặn bà đừng để mái tóc bị nắng.
    Hồi có ý định đến nghỉ ở Suối nước nóng, Alvirah đã tốn ba nghìn đôla để làm sụt cân đi, và bà mới có thể mặc các váy áo cỡ số 14 và 16. Còn
    ông Willy mỗi khi vòng tay ôm bà, ông sung sướng biết đây là người đàn

    bà của đời ông, không giống những người gầy nhom trong các tạp chí thời
    trang mà bà Alvirah thường nghiên cứu.
    Sau bốn mươi năm lắng nghe những nhận xét chân tình của Willy, nay
    bà Alvirah chỉ còn nghe ông có một tai, có khi không nghe ông bằng tai nào
    nữa.
    Bà ngước mắt, chăm chú nhìn vẻ yên tĩnh của ngôi nhà nhỏ, nổi lên trên
    những bãi cỏ và bờ cát chạy dài tạo thành một bức tường ngăn làn nước
    biển xanh rì với những tảng đá lô nhô đôi chỗ. Vẻ đẹp thiên nhiên sẵn có
    của mũi Cod vậy mà cũng không giúp bà viết nổi một bài để gửi cho
    Charles Evans, chủ bút tờ Globe.
    Hai năm trước, Charley đã cử phóng viên đến phỏng vấn vợ chồng bà,
    rằng họ cảm thấy thế nào khi trúng số 40 triệu đô-la, rằng họ sẽ làm gì với
    số tiền này. Alvirah lúc đó làm nghề quét dọn, còn Willy là thợ sửa ống
    nước. Phóng viên hỏi rằng họ có tiếp tục làm những công việc này nữa
    không, thì bà đã trả lời một cách lửng lơ rằng bà không thể nói được. Và
    sau đó, bà vẫn còn cầm cây chổi và ăn mặc như các bà phù thủy trong
    nhóm “Những Hiệp sĩ của Columbus”. Nhưng rồi, bà lập bảng kê tất cả
    những thứ bà cần làm, đầu tiên là đến Suối nước nóng Cypress Point - nơi
    bà có ý định làm quen với những người nổi tiếng, mà bà đã từng nghe nói
    tới trong đời.
    Điều đó khiến cho ông Charles Evans đề nghị bà viết một bài báo khi
    bà đến đấy. Ông ta đưa cho bà một món trang sức bằng bạc hình tia nắng
    mặt trời mọc, phía trong có giấu một cái máy ghi âm nhỏ xíu, để bà có thể
    thu băng tất cả những cuộc tiếp xúc của bà với mọi người, rồi theo đó mà
    viết thành bài báo. Cứ nghĩ đến cái máy ghi âm lần nào bà cũng tức cười,
    vì ông Willy thì cứ nói là bà đem tắm cái máy đó trong suối nước nóng.
    Bà cố nhặt nhạnh từ cái máy những diễn tiến, những rắc rối bà đã gặp,
    và điều đó đem lại cho bà nhiều hứng thú. Và bây giờ bà là người bạn thân
    thiết của những người ở Cypress Point, và bà đến đó hàng năm như là một
    vị khách quý. Cũng như để cám ơn sự tiếp tay của bà trong việc phát hiện
    ra một kẻ giết người trên một chuyến tầu hồi năm rồi, họ được mời xuống
    tàu đến Alaska miễn phí, bất cứ khi nào họ muốn.
    Mũi Cod rất đẹp nhưng bà Alvirah vẫn thầm nghi ngờ rằng đây chỉ là
    kỳ nghỉ thông thường, nên sẽ không giúp bà viết được một bài báo hay cho
    tờ Globe.

    Trong lúc nhìn lên những que rào xộc xệch bên phải tầm mắt, bà thấy
    người phụ nữ trẻ hàng xóm đang đứng bên rào trước cửa nhà, ngóng mắt
    nhìn ra Vịnh với vẻ buồn bã lạ lùng. Bà nghĩ vậy vì thấy bàn tay cô ta nắm
    chặt cái hàng rào, biểu lộ điều gì đó thật căng thẳng. Hết sức căng thẳng.
    Cô ta quay lại, bắt gặp đôi mắt Alvirah đang nhìn mình thì vội quay đi
    ngay. “Cô ta làm như chẳng thấy mình gì cả”. Cái khoảng cách chưa đến
    20 mét giữa họ không ngăn bà cảm giác rằng có những đợt sóng đau buồn
    và thất vọng ào ạt bổ xô tới trong lòng người phụ nữ trẻ này.
    Tự dưng bà nghĩ đây có phải là dịp để bà tò mò coi có cái gì để bà quan
    tâm không. “Tôi nghĩ là tôi phải tự giới thiệu mình với người hàng xóm
    kia”. - Bà nói với chồng - “Cô ta đang bị rối vì điều gì đó”. Và bà bước
    xuống bậc cấp đi vòng đến chỗ hàng rào.
    “Chào cô” - Bà nói giọng thân mật - “Tôi thấy cô vừa lái xe về. Chúng
    tôi mới đến đây chừng hai giờ, nên tôi muốn sang làm quen với cô. Tôi là
    Alvirah Meehan”.
    Người phụ nữ quay lại và bà cảm thấy xúc động. Cô ta như một người
    bệnh nặng. Cái dáng vóc ẻo lả, mềm ra như tấm vải phủ quan tài, tay chân
    mảnh khảnh và yếu ớt. “Tôi đến đây một mình, không đám làm bạn với ai”
    - Cô ta khẽ nói tiếp: “Xin bà tha lỗi cho”.
    Đúng là mọi việc coi như đã chấm dứt ngay lúc ấy - như bà Alvirah
    nhận định, sau đó - nhưng khi bà định quay gót lúc người phụ nữ trẻ vội
    vàng bước đi loạng choạng, nặng nề vào nhà, bà đã vội xông tới dìu cô ta,
    vì bà thấy cô ta bước đi thật khó khăn. Vào nhà, Alvirah phát hiện là cô ta
    bị một tai nạn gì đó, bà vội làm một bọc nước đá chườm cổ tay sung vù của
    cô ta. Tin rằng cổ tay của cô ta chỉ bị bong gân, bà giúp pha một tách cà phê
    mang đến. Người phụ nữ cho bà biết tên mình là Cynthia Rogers, dạy Tiểu
    học ở Illinos. Một chút chi tiết nhỏ đó giống như một quả bóng đang xì hơi
    trong tai bà - như bà kể lại với Willy khi trở về nhà một giờ sau - bởi vì
    trong vòng mười phút, bà đã biết người phụ nữ trẻ hàng xóm đó là ai - “Cô
    ta xưng là Cynthia Rogers, nhưng tên thật là Cynthia Lathern. Bị kết tội
    trong vụ án giết chết người bố dượng mười hai năm trước. Ông ta là một
    con ngựa đực. Tôi nhớ vụ án này như nó vừa xảy ra hôm qua”.
    “Mình thì lúc nào cũng nhớ hết mọi chuyện như vừa mới hôm qua”, Willy nhận xét.

    “Thực mà. Mình quên là tôi luôn đọc những bài báo viết về các vụ án
    mạng sao? Nhưng vụ án này thì xảy ra ở đây, ở Mũi Cod. Cynthia đã thề
    rằng cô ta vô tội, cô ta vẫn nói có một nhân chứng có thể xác nhận rằng cô
    ta không ở nhà vào lúc xảy ra án mạng. Nhưng tòa án thì không tin lời khai
    cô ta. Tôi đang thắc mắc vì sao cô ta lại trở về đây. Tôi phải gọi cho tờ
    Globe và ông Charly sẽ gửi cho tôi tài liệu về vụ án này. Có lẽ cô ta vừa
    được trả tự do. Nước da cô ta xám xịt”. - Rồi đôi mắt Alvirah chợt sáng
    lên - “Có thể cô ta đến đây để tìm kiếm người làm chứng mất tích đó để
    minh oan cho mình. Tôi đang có một ý định tốt. Willy ơi, dù tôi cũng biết
    những ngày này là để dành cho chúng ta được nghỉ ngơi mà!”.
    Trước sự ngạc nhiên của ông Willy, bà mở ngăn trên của tủ áo, lấy vật
    trang sức hình mặt trời mọc bằng bạc có giấu cái máy ghi âm ra, rồi quay
    số điện thoại nói chuyện với người chủ bút ở New York.
    Hôm đầu tiên đó, ông Willy và bà Alvirah đi ăn tối ở nhà hàng Red
    Pheasant Inn. Alvirah mặc chiếc áo hoa màu xanh và vàng chanh rất sáng
    mà bà đã mua ở hiệu Bergdorf Goodman, và trong bộ áo này, bà muốn ông
    Willy không nhìn những gì khác trên người bà như hồi ông nhìn chiếc áo
    màu hoa bà đã mua ở hiệu Alexandre trước khi họ trúng số. “Đó là màu sở
    thích của mình mà” - Bà có vẻ mơ màng lúc trét bơ lên cái bánh nướng
    nhân mút quả. “Với tôi, thứ bánh nướng này ngon tuyệt. Còn mình, tôi rất
    thích khi thấy mình mua chiếc áo jacket bằng vải lanh vàng đó. Nó làm nổi
    bật đôi mắt xanh của mình, nhưng mình còn phải đi chọn một kiểu tóc nữa
    đấy”.
    “Tôi chỉ thấy nó là con chim hoàng yến nặng hai trăm cân thôi” - Willy
    nhận xét - “Nhưng mình thì vẫn cứ thích nó hoàn toàn”.
    Sau bữa ăn, họ đến nhà hát xem vở kịch vui của Debbie Reynolds mới
    dàn dựng do ban kịch Broadway diễn. Lúc vở diễn tạm nghỉ, họ ngồi ngoài
    bãi cỏ trước nhà hát uống nước giải khát có gaz thơm mùi củ gừng. Bà nói
    với ông Willy là bà rất hâm mộ Debbie Reynolds từ hồi Debbie còn rất trẻ,
    lúc viết nhạc với Meckey Rooney, để rồi sau đó gây ra điều khốn khổ cho
    Eddie Fisher khi làm cho cô ấy ôm nuôi hai đứa con. Nhưng điều gì là tốt
    cho ông ta? Alvirah nói một cách triết lý và nhắc chồng trở vào nhà hát để
    xem tiếp phần sau. “Ông ta đã không có gì may mắn sau đó. Con người
    không làm việc phải thì thường không gặt được điều gì thành công ở đoạn
    kết cả”. Nói chuyện ấy thì bà lại tự hỏi, không biết ông chủ bút có gửi tài

    liệu về người phụ nữ hàng xóm cho bà bằng cách nào nhanh nhất không,
    hay bà phải sốt ruột đợi đọc nó, nếu tòa soạn chỉ gửi nó cho bà theo cách
    thông thường.
    Trong lúc họ đang say sưa xem kịch thì Cynthia Lathem cũng nhận thức
    rằng cô giờ đây đã được hoàn toàn tự do và mười hai năm ngồi tù đã lùi lại
    sau lưng cô. Mười hai năm... lúc tuổi trẻ của cô đang nhiều hứa hẹn từ
    trường Tạo mẫu Thiết kế ở Rhodt Island và ông bố dượng Stuart Richards
    thì bị bắn chết trong phòng làm việc tại ngôi nhà lớn của ông, ngôi nhà
    được phỏng đoán là của một thuyền trưởng có từ hồi thế kỷ thứ 18 tại
    Dennis.
    Hồi trưa, trên đường đến đây, Cynthia có dịp nhìn lại ngôi nhà ấy. Bây
    giờ ai ở đó nhỉ? Cô băn khoăn. Bà chị Lillian, con riêng của người bố
    dượng đã bán nó đi hay vẫn còn giữ lại? Dòng họ Richards đã ở đó suốt ba
    đời, nhưng Lillian thì đâu có gì để quyến luyến nó. Khi Cynthia nhấn ga
    vọt đi, cô run rẩy với những hoài niệm miên man về cái đêm đen tối ấy và
    những chuỗi ngày tiếp theo... Khởi tố. Bắt giữ. Buộc tội. Và kết án. Lời
    khai đầu tiên của cô là: “Tôi có thể chứng minh một cách tuyệt đối rằng tôi
    đã ra khỏi nhà lúc tám giờ và đến nửa đêm tôi mới trở về đó. Vì tôi được
    mời đi chơi”.
    Cynthia chợt rùng mình trong bộ áo váy bằng len màu xanh nhạt mặc
    bó sát thân hình mảnh khảnh. Cô đã nặng gần 52 kí-lô khi vào tù. Còn bây
    giờ: 50 kí-lô - không cân xúng với chiều cao 1 mét 70 của cô. Tóc cô ngày
    xưa vàng tươi óng ả, giờ chỉ là một màu nâu. Cô thấy buồn khi đưa tay lên
    vuốt mái tóc mình. Đôi mắt cô lờ đờ, vô hồn khi nhớ lại bữa ăn trưa hôm
    ấy và ông Stuart Richards đã nói: “Lúc nào trông cô cũng rất giống mẹ cô.
    Cô có nghĩ nhớ tới bà ấy không?”.
    Mẹ cô đã về làm vợ ông Stuart ngày cô vừa lên tám, cho đến khi cô 12
    tuổi, thời gian dài nhất so với những bà vợ khác của Stuart. Lillian, đứa
    con gái riêng của ông ta lớn hơn Cynthia 10 tuổi, sống theo cha, nhưng ít
    khi đến Mũi Cod.
    Cynthia phải sạch cái tủ treo áo. “Có gì để thôi thúc mình đến đây
    không?”. Ra khỏi nhà giam mới hai tuần, tiền bạc chỉ đủ sống trong sáu
    tháng, cô chưa biết phải làm cái gì có thể làm hoặc làm gì cho cuộc đời
    mình. “Có phải mình đã chi tiêu quá lãng phí khi đến thuê ngôi nhà này, lại

    còn thuê một chiếc xe nữa? Mục đích nhằm vào cái gì? Mình có đủ hy vọng
    thành công không?”.
    “Một cái kim trong vựa cỏ” - cô nghĩ. Đi vào phòng khách, cô tự nhiên
    so sánh nó với ngôi nhà của ông Stuart, thấy rằng ngôi nhà này quá nhỏ,
    nhưng sau nhiều năm trong chốn lao tù, cô cũng tưởng nó rộng như một
    cung điện.
    Bên ngoài, từng con gió thổi nhẹ trong vịnh làm mặt biển xôn xao
    những ngọn sóng, như khi ta đánh sữa ở trong thùng. Cynthia đi ra cổng,
    một tay ôm chặt cánh tay bị bong gân cho đỡ lạnh. Cô ta ơn Chúa đã cho cô
    được thở lại bầu không khí trong lành và biết mình có thể thức dậy lúc
    bình minh, được đi dọc theo bãi biển như những ngày còn là một cô bé.
    Giờ đây, không có bức tường nào ngăn bước chân cô nữa. Mặt trăng hạ
    tuần gọn như chiếc thuyền. Ánh sáng lấp lánh trên mặt nước từng mảng
    bạc giữa đêm xanh. Ở phía của chỏm sóng nơi không có ánh trăng, làn
    nước tối thẫm.
    Cynthia nhìn mặt biển mà nghĩ tới đêm ông Stuart bị bắn chết. Trong
    dịp hè, cô đã ở lại trường để học thêm, muốn việc học làm cô quên đi cái
    chết bất ngờ của mẹ cô trước đó ba tháng. Ông Stuart gọi điện mời cô về
    nhà một ngày cuối tuần. “Tôi đã đi châu Âu” - ông ta nói trong điện thoại “Tôi mới hay tin thôi. Tôi buồn lắm, Cyndy ạ”.
    Cô đồng ý đến nhà ông vì thâm tâm nhắc bảo cô như vậy, cũng như cô
    cũng biết có rất nhiều trắc trở trong tình yêu của ông ta và mẹ cô, và cô
    còn muốn chia xẻ với ai đó nỗi buồn đau vì mất mẹ của mình.
    Lúc ấy, ông Stuart đã ở tuổi 60, nhưng còn có nét lắm. Tóc trắng, mắt
    xanh, dáng người chắc khỏe, tác phong như quân đội. Là một doanh nhân
    thành đạt, ông ta làm chủ một tài sản hai mươi triệu đô-la, là một con người
    khôn khéo, thủ đoạn nên không bao giờ có chuyện các bà vợ, các bạn bè
    hay những kẻ giúp việc tỏ ý dám buồn giận ông ta.
    Kỳ nghỉ của cô nhằm lúc tiết trời nhiều mây, u ám. Còn ông Stuart thì ủ
    ê, lặng lẽ. Ông nói với cô rằng mẹ cô rất mẫu mực và ông đã có một người
    đàn bà chỉ cần dăm phút trong buổi sáng cũng đủ làm đâu đó sạch sẽ, gọn
    gàng.
    Cynthia và ông Stuart dùng cơm tối ở Câu lạc bộ Wilianno Country
    đêm thứ Sáu. Ông ta để ý những lần cô có cử chỉ giống như mẹ cô nên nói:

    “Tôi vẫn luôn luôn nhớ tới bà ấy”, ông ta còn tỏ vẻ thân mật hỏi cô về
    người yêu của cô sẽ như thế nào. “Mẹ cô là một người thích tiêu tiền. Tôi
    vẫn để bà ấy không phải nghĩ gì về việc đó”.
    Nhưng, mọi sự xếp đặt của ông ta thì không có chút gì hào phóng.
    Cynthia bỗng nhớ lại và chợt tức giận, cô nghe máu nóng dâng lên mặt
    mình: “Ông nói rằng ông rất đau buồn, nhưng ông đâu có tôn trọng mẹ tôi.
    Được, có thể là ông nói đúng. Nếu ông không lo nghĩ về từng mười xu tiêu
    pha của mẹ tôi. Vậy mà, mẹ tôi vẫn còn yêu ông tới lúc bà chết”.
    Mặt ông Stuart tím lại như mọi lần khi không vừa lòng: “Tôi mời cô về
    đây vì tôi cảm thấy có chút nào đó gọi là trách nhiệm đối với cô, với tương
    lai của cô, cô gái trẻ. Cô đừng nên xỏ xiên tôi”.
    Và Cynthia cũng kể lại việc đó cho vài người nghe khi cô trở về cái góc
    của cô ở nhà sau, phía cổng ra vườn.
    Giữa trưa ngày thứ Bảy, tai họa bắt đầu. Ông Stuart đã nồng nhiệt chào
    đón người khách vừa tới và giới thiệu với mọi người: “Anh Ned
    Creighton. Tôi biết anh Ned này từ khi còn trẻ” - Ông nói - “Bao lâu rồi,
    Ned nhỉ?”.
    “Gần ba mươi năm” - Ông Ned mỉm cười với Cynthia: “Chúng ta có
    gặp nhau trong một dịp hè, cô Cynthia còn nhớ không? Lúc đó cô chùng
    mười tuổi và cô đã làm ra vẻ như người lớn vậy”. Nụ cười của ông ta rất
    đáng chú ý.
    Cô không nhớ rõ lắm, nhưng cô cũng lập tức xác định rằng ông ta có
    tới đây và một trong những lần đó lại có Lillian ở nhà. Từ khi Lillian tỏ vẻ
    ghét cô, thì không thấy cô ta tham dự vào bất cứ việc gì, nên cô ta rất ngạc
    nhiên khi gặp ông Ned.
    Ông Ned mời cô dùng bữa tối và đi chơi thuyền. Ông Stuart nhất định
    khuyên cô nên đi. “Tôi đã xong mấy việc giấy tờ. Có vài việc tôi muốn cô
    cùng đi với tôi, ngày mai. Chuyện tiền bạc đó mà. Việc tờ di chúc của tôi,
    đại khái là như vậy”. Điều nhấn mạnh của ông ta làm cô thấy khó hiểu.
    Cô và ông Ned dùng cơm tối ở nhà hàng “Chiếc bàn của thuyền
    trưởng”. Ông ta vui vẻ nói đùa: “Tôi nghĩ cô rất xứng đáng để có được
    nhiều hơn một kỳ nghỉ cuối tuần với ông Stuart, để không có gì gọi là mất
    mát. Chúa ơi, ông ta có làm gì khiến cô lo lăng không? Hay bắt chước tôi
    như hồi tôi còn nhỏ, là cứ làm thinh”. Đôi mắt ông ta nhíu lại, mái tóc cháy

    nắng tương phản với đôi mắt xanh, thân hình cường tráng đầy nam tính,
    nổi bật với chiếc áo thể thao và chiếc jacket bằng vải lanh xanh, giày ống
    trắng. Tự nó thể hiện một điều là ông ta khá hấp dẫn. Ông ta nói với
    Cynthia rằng đang tìm mấy nhà đầu tư, kiếm mua một ngôi nhà lớn ở
    Barnstable để mở nhà hàng. “Tầm cỡ cao cấp. Có thể là không tưởng mà
    cũng có thể vào thời điểm này năm tới, tôi sẽ mời cô đến dùng bữa tại nhà
    hàng của tôi ở Mũi Cod này”. Rồi ông ta hỏi cô về những dự tính tương
    lai.
    “Tôi muốn học hết Trung học. Ông Stuart thanh toán các chi phí. Đúng
    ra thì ông ấy không có bổn phận đó. Tôi nghĩ rằng ông ấy quan tâm nhiều
    đến tôi vì muốn lôi kéo mẹ tôi trở lại, nhưng giờ thì chuyện đó không xảy
    ra được nữa rồi. Ông Stuart không phải là người bỏ ra cái gì mà không tìm
    cách thu lại một thứ khác. Ông có nhận xét gì về tiền bạc và thiện chí của
    ông ấy không?”.
    “Có. Một con người may mắn”. Ông Ned gật đầu trả lời cô vậy thôi.
    Cynthia nhớ rằng cô đã cười lớn vì những điều mà không biết rồi đây
    Mũi Cod có còn cái xó xỉnh nào để dành cho cô không. Từ nhà hàng
    “Chiếc bàn của thuyền trưởng”, họ lái xe tới chỗ đậu thuyền ở Cotuit, phía
    sau một ngôi nhà hoang vắng. Chiếc thuyền Christ Craft của ông ta chỉ dài
    có bảy mét.
    “Để rồi sau này, cứ hai năm một, tôi sẽ mời cô đi chơi bằng thuyền
    buồm”. Ông ta lái thuyền ra xa trong vịnh đến nỗi đường bờ biển trông
    không còn rõ mấy. Màn đêm trùm xuống. Gió thổi nhẹ, mang nhiều hơi
    lạnh và mùi vị riêng của biển. Chung quanh họ, không có chiếc thuyền nào.
    Ông Ned bỏ neo: “Tôi nghĩ giờ mình nên uống chút gì trước khi về ngủ”.
    Và trong những ngày dài đằng đẵng lúc ngồi tù, Cynthia vẫn nhớ mãi
    cái đêm hôm ấy, ông Ned mở một chai Champagne. Ngồi trước mặt cô,
    ông ta mỉm cười, châm thêm vào cốc của cô, đồng ý như cô rằng Mũi Cod
    là vùng đất đã ăn sâu vào máu thịt. “Tôi nhớ nơi đây nhiều lắm”, Cynthia
    cũng thú nhận như vậy.
    Đó là lần đầu tiên từ sau khi mẹ mất, cô có được chút niềm vui. Cô
    cũng nói cho ông ta nghe dự định của cô muốn trở thành một chuyên viên
    tạo mẫu. Ông ta hỏi cụ thể là cô đã nhắm nơi nào để làm được công việc
    của mình. Cô trả lời có lẽ là New York, vì cô không còn mối bận tâm nào
    về gia đình để lôi cô trở lại Boston.

    Ned lại hỏi cô về mối quan hệ giữa cô và ông Stuart. Cô cho biết trong
    thời gian mẹ cô và ông ấy ly dị nhau, cô rất ghét ông ấy: “Lúc đó, tôi mười
    hai tuổi. Tôi nhận thấy mẹ tôi yêu ông ấy biết bao nhiêu nhưng vẫn không
    muốn sống với ông ấy. Nếu ông biết nhiều về ông ấy, ông sẽ thấy bộ cánh
    chuồn chuồn của ông ấy. Ông ấy có thể để vài thứ sai chỗ rồi chỉ mặt mẹ
    tôi mà nói rằng bà không biết thu dọn, sắp xếp gì cả. Mẹ tôi thì đẹp thật,
    nhưng để đi dự một bữa ăn tối được mời, ông ấy bảo không thể mê nổi cái
    áo bà mặc, bà lại thay nó ra với thái độ vui vẻ. Một người đàn bà rất tự tin,
    không như người khác thì hoảng sợ khi cánh cửa bị đóng lại. Nhưng với tôi
    thì ông ấy luôn gật đầu, tỏ vẻ hài lòng mọi chuyện một cách chừng mực.
    Thực ra, ông ấy muốn có trách nhiệm với tôi, còn mẹ tôi thì không mong
    đợi điều ấy”.
    “Cô có nhận ra được gì ở ông ta trong bảy năm qua không?” - Ông Ned
    hỏi.
    “Không nhiều. Ông ấy đến sống ở New York cả mùa đông, lại còn đi
    đây đi đó. Nhưng ông ấy cũng gọi điện mời tôi đi ăn, hai hoặc ba lần trong
    một năm. Ông ấy luôn nói rằng: 'Nếu mẹ cô vẫn thích đến đây, cô hãy nói
    với bà ấy rằng tôi rất vui mừng'. Bà thì không bao giờ thích, còn tôi có
    nhiều lúc lo ngại rằng không biết ông ấy muốn gặp tôi hay muốn biết tin
    tức về mẹ tôi. Nhưng tôi chỉ coi ông ấy là một người cũng như cha tôi thôi,
    vì thế tôi vui vẻ đến gặp, nhưng trong một ý nghĩ điên khùng nào đó tôi vẫn
    không hài lòng về ông ấy” - và cô tiếp - “Muộn rồi, có lẽ ta nên trở về”.
    Nhưng ông Ned mở máy, thì nó không nổ. “Còn cái bộ đàm chết tiệt
    này cũng chẳng nối mạch được” - Ông ta cầu nhầu. “Nhưng thôi, nghe này.
    Cứ thong thả đã. Đêm nay trời đẹp. Rồi tôi sẽ chữa nó được ngay”.
    Chiếc thuyền nổ máy được thì đã gần mười một giờ đêm. Cynthia thấy
    lạnh và đói vì trong bữa tối cô chỉ ăn có mỗi món rau. Khi họ về đến chỗ
    đậu thuyền cô nói họ nên ghé lại mua bánh mì kẹp thịt băm viên.
    “Sao không về kiếm thứ gì đó ở nhà?” Ông Ned nói, với vẻ không bằng
    lòng.
    “Ông có đi một vòng qua bếp nhà ông Stuart lần nào đâu?” Cô trả lời
    và cười lớn. Thế nên ông Ned phải lái xe ghé lại cửa hiệu bán bánh. Nhạc
    Rock vang lên ầm ĩ mà ngồi trong xe, cô vẫn nghe rõ. Ned bảo: “Ngồi đây
    chờ tôi” và cô ngoan ngoan nghe lời. Cô quay kính xe xuống. Một người
    đàn bà béo lùn, ngồi trong chiếc xe bên cạnh, và cô nghe tiếng bà ta nói rất

    lớn: “Mẹ cha mấy thằng lỏi con. Mẹ cha ba cái thứ điếc tai đó. Bốn chục
    năm sống ở Mũi đất này, càng ngày càng bị tra tấn vì đủ mọi tiếng ồn”.
    Vừa nói, người đàn bà vừa mở cửa xe ra, bên phía chiếc Buick của ông
    Ned. Bà thò đầu vào cửa xe nói với Cynthia: “Cô coi có phải vậy không?
    Tôi nhức hết cả đầu vì nó... Cái điệu nhạc Rock and Roll làm tôi nghe mà
    cứ muốn giết người... Nói vậy chứ tôi không hề đem cái ý nghĩ bạo động
    của mình để xâm phạm tự do và sự riêng tư của người khác đâu”. Bà ta rút
    đầu ra khỏi xe của ông Ned rồi tiếp: “Không có đạo đức. Tôi thề là như
    vậy!”.
    “Tôi cũng nghĩ thế là tốt hơn” - Cynthia đáp lại. Bà ta hướng mắt nhìn
    về phía cửa hiệu bánh. Bà chừng bốn mươi tuổi hay hơn một ít, khá mập
    và lùn, tóc ngắn nhuộm màu cam, bộ áo đang mặc hơi lôi thôi, nhưng bước
    đi khỏe khoắn, không có vẻ gì là người không bình thường.
    Ông Ned tỏ ra rất khó chịu khi trở lại với hộp bánh cầm trên tay: “Cái
    bọn thổ tả kia đúng là chẳng đứa nào biết mình còn có cái đầu. Ai nói gì
    chúng cũng như đui, như điếc”. Thấy ông ta như vậy, Cynthia cũng không
    nói cho ông ta biết người đàn bà kia vừa phát biểu những gì. Thái độ vui vẻ
    từ chiều của ông ta đã biến mất. Đưa bánh cho cô, ông ta nói mình không
    đói. Ông ta cũng không mua thứ gì cho bản thân mình.
    Lái xe trở về Dennis trên quãng đường không quen cũng mất bốn
    mươi lăm phút. Đến trước ngôi nhà của ông Stuart, ông Nel mở cửa xe cho
    Cynthia xuống và nói nhanh: “Mọi việc rồi sẽ tốt đẹp thôi, Cynthia”. Giọng
    ông ta nghe có vẻ rất bục bội và cộc cằn. Ông cũng không bước xuống để
    tiễn cô đến cửa.
    Cynthia bước vào bên trong ngôi nhà đã hoàn toàn im lặng. Thấy ánh
    đèn trong phòng làm việc của ông Stuart còn sáng, cô gỗ cửa rồi nhìn vào
    trong. Ông Stuart nằm sóng soài trên tấm thảm trải sàn gần cái bàn viết,
    máu đẫm trên trán, trên mắt và vương vãi quanh chỗ nằm. Cô bước tới,
    nghĩ rằng có lẽ ông Stuart bị choáng nên ngã. Khi đặt tay hất tóc ông ta lên,
    cô nhận ra dấu đạn ở trên trán, rồi thấy khẩu súng ngắn bên cạnh bàn tay
    ông ta.
    Trong tâm trạng sửng sốt, cô nhặt khẩu súng và đặt nó lên bàn viết, rồi
    gọi điện cho cảnh sát: “Tôi nghĩ là bố dượng tôi, ông Stuart Richards, đã tự
    tử”. Và cô ngồi bên cạnh cái xác, thẫn thờ khi cảnh sát đến.

    Khi điều tra xác minh những gì cô kể, thì ông Ned nói rằng ông ta
    không ở cùng cô sau tám giờ tối. “Tôi đã đưa cô ấy về nhà ngay, sau bữa
    ăn ở nhà hàng 'Chiếc bàn của thuyền trưởng'. Bố dượng của cô gái muốn
    nói với cô ấy một chuyện riêng của gia đình”...
    Cynthia lắc đầu. Đêm nay, có nhớ lại gì thì cũng không ngoài cái đêm
    đó. Cô nghĩ, lúc này nên để cho sự bình yên nơi đây làm nhẹ lòng cô, cô lên
    giường cố dỗ giấc ngủ. Cô không đóng các cửa sổ nên nửa đêm gió mạnh
    lùa vào căn phòng thổi tốc tới gối cô nằm làm khuấy động giấc ngủ của cô,
    dù cô đã đắp chăn qua người. Cô dậy thật sớm và đi bộ ra bãi biển, cảm
    thấy cát ướt dưới chân, mắt cô tìm kiếm những vỏ sò giống như ngày cô
    còn bé. Ngày mai. Cô sẽ phải sắp xếp cho mình một ngày mai nhiều tính
    toán. Bổ sung từng chút một, làm đầy đủ những sự kiện mà cô còn nhớ như
    in, và cô sẽ truy tìm cái mà có thể coi là một điều vô vọng. Đó là tìm cho ra
    người đàn bà biết rõ rằng cô đã khai báo thành thật.
    Sáng hôm sau, lúc bà Alvirah chuẩn bị bữa điểm tâm ông Willy lái xe đi
    mua mấy tờ báo. Ông trở về còn mang thêm một túi bánh nướng xốp nóng
    hổi. “Tôi đã hỏi khắp nơi” - Ông khoan khoái khoe với vợ - “Người ta bảo
    cứ đi tới Just Desserts, kế bên Bưu điện là có bánh nướng xốp ngon nhất ở
    Mũi Cod này”.
    Hai người dùng bữa sáng trên cái bàn xếp và bà đã ăn đến cái bánh
    nướng thứ hai. Vừa ăn, bà vừa để ý đến những người tập thể dục hay đi bộ
    buổi sáng trên bãi biển: “Nhìn kìa, cô ta đó!”.
    “Đó là ai?”.
    “Cynthia Lathern. Cô ta đã đi như vậy chừng một giờ rưỡi rồi. Tôi chắc
    rằng cô ta đã đói”.
    Khi Cynthia rảo bước trở về, cô gặp nụ cười rạng rỡ của bà Alvirah
    người đang thân mật nắm cánh tay cô: “Tôi mới pha cà phê ngon lắm, và
    có cả nước cam tươi. Mời cô sang nếm thử chút bánh nướng với chúng
    tôi”.
    “Thục tình tôi không muốn ăn”. Cynthia từ chối nhưng chân cô đã
    bước qua bãi cỏ. Ông Willy đứng lên lấy chiếc ghế đệm dài để cô ngồi:
    “Cổ tay cô đỡ chưa?” - Ông hỏi - “Ba Alvirah nhà tôi từ lúc qua chơi
    bên cô về, cứ lo cho cái cổ tay bị bong gân ấy”.

    Cynthia thấy nỗi phiền muộn của cô đang lắng dịu vì sự chân tình ấm
    áp của hai gương mặt này. Ông Willy có đôi má tròn trịa, vẻ mặt an phận và
    tóc trắng dày gợi cô nhớ tới Tip O'Neill. Cô nói ra điều đó làm ông Willy
    cười rất tươi: “Cô bạn đã nhận ra tôi trong cửa hiệu bánh rồi. Điều khác
    duy nhất đó là ông Tip là Chủ tịch Hạ viện ở trong nhà, còn tôi thì chỗ nhà
    vệ sinh ở ngoài nhà. Tôi là thợ sửa ống nước về hưu mà”.
    Cô nhắp tùng ngụm nước cam tươi, uống chút cà phê và ăn một cái
    bánh nướng, lắng nghe mà không tin lắm, cũng như rất ngạc nhiên khi bà
    Alvirah kể chuyện bà trúng số, chuyện đến Suối nước nóng Cypress Point,
    giúp tìm ra dấu vết kẻ giết người, rồi đi trên chuyến tàu biển của người
    Alaska, xác định kẻ sát nhân là người ngồi bên cạnh họ chỗ cái bàn ăn lớn
    trên tàu.
    Chiều lòng bà, Cynthia uống thêm một tách cà phê nữa. “Bà nói với tôi
    những chuyện ấy là có dụng ý phải không?” - Cô hỏi - “Hôm qua bà cũng
    nhận ra tôi là ai rồi, đúng không?”.
    Alvirah hơi bối rối: “Đúng vậy”.
    Cynthia đẩy chiếc ghế cô ngồi ra phía sau: “Bà hết sức tử tế và tôi nghĩ
    rằng bà muốn giúp đỡ tôi, nhưng cách tốt nhất bà có thể làm, là bà cứ để
    tôi tự lo liệu một mình”.
    Bà Alvirah ngồi đó, nhìn cô gái thong thả bước đi giữa hai ngôi nhà
    nhỏ: “Cô ta đã tiếp nhận được một chút nắng sáng nay”. - Bà nói - “Từ từ
    rồi sẽ ổn. Cứ từng chút một, dần dần rồi cô ta sẽ là một cô gái đẹp”.
    “Mình cũng có đủ dịp tốt để phơi nắng sáng ở đây vậy” - Willy cắt lời “Mình đã nghe cô ta bảo sao rồi mà”.
    “Ôi, mình quên chuyện đó đi. Chừng nào ông Charley gửi tài liệu về vụ
    án của cô ta tới đây, tôi sẽ có cách giúp đỡ cô ta”.
    “Ôi, Chúa ơi” - Willy kêu lên - “Tôi biết trước, rồi đây chúng ta sẽ trở
    lại nơi này lần nữa”.
    “Chẳng biết cái ông Charley làm ăn ra sao rồi?” - Bà thở dài vì mong
    đợi.
    Và xấp tài liệu đã đến với bà khi hai người ăn sáng xong. “Ông ấy gửi
    cả tập tới đây, vậy mà vẫn còn thiếu bản sao phiên tòa. Ông ấy lại phải lục
    tìm cho ra, một hai ngày nữa đây”. Alvirah cắn môi suy nghĩ.

    Ông Willy ngả người trên trường kỷ mà ông rất thích, đọc gần hết
    phần tin thể thao trên bốn tờ báo ông hay đọc thường xuyên: “Rồi mình
    phải gắn cho đội Mets một cái cờ đuôi nheo thôi” - Ông buồn bực bình
    luận một mình.
    Alvirah thì không nghe ông nói gì: “Ông bạn đời Willy” - Bà gọi ông
    bằng giọng mỗi lần bà có điều gì quan trọng cần trao đổi - “Mình có nghĩ
    cô gái đó bị điên không?”.
    Willy cũng biết là bà đang muốn nói tới ai: “Tôi cho rằng cô ta là một
    người tốt. Tôi cảm thấy tội nghiệp cho cô ta”.
    “Tôi cũng nghĩ như mình. Vậy mình có nghĩ rằng cô ta thông minh
    không?”.
    “Sáng dạ cũng là cái nút mở. Mình sẽ nói như thế thôi”.
    “Mình nói đúng. Này nhé, tôi đã đọc lại tất cả các bài báo viết về vụ án
    đó. Bây giờ, tại sao cần phải đòi hỏi ở cô ta một sự thông minh, sắc bén dù
    cô ta chỉ mười-chín-tuổi. Câu chuyện đã không làm ai tin vì ngớ ngẩn,
    không xác định được chỗ nào cô gái đó đã có mặt, trong lúc người bố
    dượng bị giết ở nhà. Và cô ta đâu phải là đần độn hay điên rồ mà đi cầu
    xin một kẻ xa lạ, vô can làm chứng cho mình” - Bà lắc lắc đầu - “Vậy là đã
    có lời khai không đúng sự thật của người làm chứng. Tôi dám cá cược
    bằng tất cả số đô-la của mình rằng kẻ giết người không phải là Cynthia.
    Nhưng còn tại sao cô ta lại đến đây?” - Lời nói của Alvirah thêm sôi nổi và
    cao giọng hơn - “Tôi sẽ nói cho mình biết tại sao, ông bạn đời của tôi ơi.
    Đó là cô ta còn muốn tìm cho ra kẻ đã giết ông Stuart Richards đêm ấy, và
    rửa sạch cái tên mình”. Bà có vẻ vui thích: “Có phải là may mắn lắm
    không, khi tôi có ở đây để giúp cô ta một tay”.
    Willy nằm xuống tràng kỷ, trở về với những trang tin thể thao: “Chúa
    ơi” - Ông lần nữa kêu lên.
    Ngủ được từng giấc dài trong những đêm bình yên với những giờ đi bộ
    buổi sáng sớm có tác dụng xua bớt thứ cảm giác tê liệt từ lúc Cynthia nghe
    Tòa tuyên án mình mười hai năm tù trước đây. Tuy vậy, mọi biểu hiện từ
    cách ăn mặc của cô vẫn còn vết tích của những năm vừa qua vì một cơn ác
    mộng, trong đó cô phải cố mà tồn tại, nhưng tồn tại bằng sự giá băng mọi
    cảm xúc. Cô là một phạm nhân gương mẫu. Cô sống lặng lẽ, từ chối mọi
    thứ tình bạn. Cô học tất cả những gì mà bài học của nhà tù đã dạy cô. Cô đã

    tốt nghiệp bằng lao động trong việc giặt giũ và bếp núc, đến công việc giấy
    tờ trong thư viện và phụ giúp giảng bài trong lớp mỹ thuật. Và sau một thời
    gian làm quen dần với thứ thực tế đáng buồn có từ một điều oan khiên áp
    đặt cho cô, cô bình tĩnh hồi tưởng lại và cô vẽ theo trí nhớ của mình.
    Gương mặt của người đàn bà béo lùn ở chỗ đậu xe. Điểm bán bánh mì kẹp
    thịt. Chiếc thuyền của ông Ned. Từng chi tiết, cô có thể làm cho nó rõ nét
    hơn so với trí nhớ. Khi hoàn tất, cô đã có bức tranh của cửa hiệu bán bánh,
    nhưng cũng rất dễ tìm thấy cửa hiệu đó bất cứ nơi nào trên nước Mỹ. Một
    chiếc thuyền cũng giống như bất cứ chiếc Chris Craft nào trong năm đó.
    Chỉ có bức tranh vẽ người đàn bà thì tuy ít rõ nét nhưng cô biết rằng không
    khác lắm. Lúc đó trời quá tối. Cuộc đối thoại diễn ra rất ngắn, chỉ có mấy
    câu. Vậy mà người đàn bà đó lại là nguồn hy vọng duy nhất của cô. Vì cô
    không thể nào quên phần tóm tắt tại cuối phiên tòa, là lời luận tội của công
    tố viên.
    “Thưa quý tòa, Cynthia Lathern đã trở về nhà của ông Stuart Richards
    trong khoảng thời gian từ tám giờ đến tám giờ ba mươi phút đêm mồng
    hai tháng Tám năm 1976. Cô ta đi vào phòng làm việc của người bố
    dượng. Vì quá trưa hôm đó, ông Stuart Richards đã nói với Cynthia rằ...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT BUÔN MA THUỘT !